Thursday, May 28, 2026

RỪNG LÁ THẤP

 






        
"...Viết cho người lính chiến,...
 và phu quân tôi". DTDB
 
Anh hát ca vang, bài “Rừng Lá Thấp”
Lưng chừng đồi, một buổi tối đầu xuân
Gió thổi, suối reo hòa khúc nhạc rừng
Cây lá xạc xào, chim muông ca múa
 
Tiền đồn vắng nhưng tình xuân chan chứa
Không bánh chưng, không dưa hấu, thịt kho
Không nhang trầm tuôn đợt khói thơm tho
Không kiều nữ áo dài hoa tươi thắm
 
Người lính chiến đón xuân ngày ngưng bắn
Cơm xấy khô, cùng cá hộp, thịt lon
Nước lã thay trà trong chiếc bi-đông
Ca hát, chuyện trò suốt đêm không ngủ
 
Trời đêm xuân, sáng ngời muôn tinh tú
“…Giữa rừng già, ta có biết gì đâu…”
Giọng ngân nga, chợt đứt quãng từng câu
Tiếng sung nổ loạn cuồng, anh ngã sấp!
 
Anh đã hát dở dang bài “Rừng Lá Thấp”
Dòng máu tươi thấm ướp cỏ cây rừng
Để chiều chiều nhìn mây tím bâng khuâng
Tôi nghe vẳng, giọng buồn buồn anh hát!
 
Có người bảo, “Hãy quên đi đừng nhắc
Bảy Mươi Lăm, nay cũng đã đổi thay
Hãy quên đi, thù hận cũ nhạt phai
Trái hạnh phúc trong tầm tay đón đợi…”
 
Có Những chuyện cố quên, không nhắc tới
Đêm từng đêm, đi vùi xác bạn tù
Hồn tả tơi như lá úa chiều thu
Trại cải tạo, chốn trả thù kẻ bại
 
“Rừng Lá Thấp”, tiếng ai còn vọng mãi
Nỗi đoạn trường còn tan nát lòng tôi!
Tết Mậu Thân, chôn tập thể vạn người
Trên lịch sử, vết thương còn rướm máu
 
Tôi đọc mãi, bài “Bình Ngô Đại Cáo”
Mơ có ngày đuổi sạch bọn phi nhân
"...Đừng nói với tôi! Hãy hỏi lòng dân
Căm hờn đó! Nên thù, hay nên xóa?"
 
DƯ THỊ DIỄM BUỒN

Ngậm ngùi


 

CÁ CHUỒN CHIÊN VÀ CANH MÍT NON.

 Đỗ Duy Ngọc




CÁ CHUỒN CHIÊN VÀ CANH MÍT NON.

Mấy hôm rồi trời nóng quá, cái nóng đầu hè ở Sài Gòn như lửa hun và đi đường buổi trưa như con khô bị nướng. Chẳng muốn ăn gì, ăn chi cũng chẳng thấy ngon. Lại thêm cả hai tuần nay bịnh, bị tống thuốc trụ sinh nên miệng đắng, nuốt không vô. Chợt thèm mấy món ăn dân dã một thời ở Đà Nẵng do Mạ nấu. Mà lạ, cứ nhớ Mạ là nhớ món ăn, nhớ món ăn một thuở lại nhớ Mạ. Người ta hay bảo thèm cơm Mẹ nấu. Không phải người Mẹ nào cũng nấu ăn ngon, nhất là ở thời buổi bây giờ, đầy món ăn nấu sẵn. Nhưng đó là món ăn Mẹ nấu, là ký ức, là kỷ niệm, là khẩu vị đã quen từ hồi thơ bé, là hình ảnh người Mẹ bên bếp lửa với những giọt mồ hôi. Tôi đã gần tuổi tám mươi, Mạ đã về miền mây trắng lâu rồi mà nhiều đêm có lão già một mình khóc vì nhớ Mạ và nhớ những món ăn của một thời xa lắc. Tôi mãi mãi là người nhà quê, chỉ thèm những món ăn quê mùa thế thôi, chẳng muốn ăn cao lương mỹ vị.

Saturday, May 23, 2026

Tiếng Thơ Hoa Vàng Đặc Biệt: Tưởng Niệm Một Năm Ngày Mất Chiến Sĩ Võ Đại Tôn

 

Chiều Tà Quê Cũ Ở Đâu

 


Chiều Tà Quê Cũ Ở Đâu

胡馬嘶北風,

越鳥巢南枝   (佚名)

“ Hồ mã tê bắc phong

Việt điểu sào nam chi “ ( Khuyết danh – Đông Hán )

Ngựa Hồ tràn xuống Trung Nguyên

Ngửi mùi gió Bắc ngựa liền hí vang

Chim Việt  lạc tận Trường Giang

Nhớ quê chim ngủ cành nam hướng nhà.

 


  (摸魚兒-雁丘)

“ Vạn lí tằng vân

Thiên sơn mộ tuyết “

( Nhạn Khâu – Nguyên Hiếu Vấn – Nam Tống )

Quê nhà muôn dậm mù khơi

Ngàn mây lốp lốp trông vời cố hương

Quan san trùng điệp dậm trường

Chiều hôm tuyết phủ ngập đường về quê.

Y Tả

Chiếc Nón Sắt Trên Đồi Hoang Thơ Trần Quốc Bảo

 




Chiếc Nón Sắt Trên Đồi Hoang 

 

Chiếc nón sắt, 
Mang vết đạn thù!

Nằm cô quạnh,

Trên đồi hoang vu

Ôm trong lòng nón... Niềm u uất buồn!

 

Có đêm giông bão mưa tuôn,

Ầm ầm sấm chớp, gọi hồn chinh nhân.

Như bom rơi trước mặt!

Như pháo nổ thật gần!

Hồn chiến sĩ hiện thân,

… nón sắt trên đầu.

Oai hùng giữa ánh hỏa châu sáng lòa!

 

 

Đêm nào… như mới đêm qua,

Hàng hàng lớp lớp xông pha trận tiền!

Bây giờ nón sắt ngủ yên.

Anh Hồn Tử Sĩ về miền hư vô.

 

Có đêm lạnh giá,

Dưới ánh trăng mờ,

Hồn về tìm nón, mơ hồ hiển linh!,

Dâng lên Tổ Quốc điêu linh.

Chiếc nón sắt,

Của người chiến binh,

Đó là kỷ vật hi sinh cuối cùng!

 

 

Có đêm gió bấc lạnh lùng,

Gió lùa qua vết đạn,

Như tiếng nhạc hùng xuất quân!

Này Hồn Chinh Nhân…

Hãy vào lòng đất nhé!

Ngủ yên trong Trái Tim Mẹ Việt Nam.

Hiển linh trên lá Cờ Vàng…

Ba dòng máu đỏ hiên ngang oai hùng!

 

 

Rồi nữa, một mai…

Chiếc nón sắt mang vết đạn thù,

Chìm trong cát bụi,

Phủ kín là rừng.

Chuyến Đi Vê Sáng, Kim Trúc trình bày

 

Thursday, May 21, 2026

Chắc Cà Đao, Hốc Bà Tó: Địa Danh Có Thật hay Chỉ Là Lời Đồn? | Ký Ức Miền Tây

 

Tàn Rụng Trái Mơ Đời

 Truyện ngắn


Tàn Rụng Trái Mơ Đời 


Thanh Hà 


1/-

Nếu trí nhớ của Tường Vi đừng quá chây lười thì vào năm học đệ ngũ hay đệ tứ ông thầy dạy Việt Văn nhân giảng về văn thơ mới của các văn thi sĩ thời tiền chiến, có nhắc đến thi sĩ Hồ Dzếnh với bài Ngập Ngừng mà trong đó có mấy câu  sau:

Truyện ngắn




 



Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân….

…Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở

Đời mất vui khi đã vẹn câu thề

Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đổ

Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa (Ngập Ngừng, Hồ Dzếnh)

Wednesday, May 20, 2026

NGÀN THU ÁO TÍM | TÁC GIẢ HOÀNG TRỌNG

 

Những Mảnh Tình Trong Thời Tao Loạn



Những Mảnh Tình Trong Thời Tao Loạn

20/04/2026

Minh họa Đinh Trường Chinh

 

Câu thơ xưa “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường” bổng trở thành một tiếng vọng buồn thấm thía khi ta nhìn lại những mảnh đời, mảnh tình của người Miền Nam sau cuộc đổi đời. Giữa cơn xoáy của thời loạn, bao cặp vợ chồng đang yên ấm bỗng bị đẩy vào những ngã rẽ không ai kịp chọn lựa, kẻ rời trước người đi sau. Có những người nắm tay nhau run rẩy vượt biển, chọn con đường lưu lạc, dìu nhau qua biển lớn và may mắn đến được bến độ. Có người lạc mất nhau giữa đường đời; có những mảnh tình rơi lại giữa hành trình- như những chiếc lá bị cuốn trong phong ba - giữa biển đêm, giữa những nơi xa lạ trên xứ người. Và cũng có những người buộc phải buông tay nhau - không vì hết thương, mà vì cuộc sống quá khắc nghiệt để một mình gánh hết. Và cũng có những cuộc đoàn tụ muộn màng, khi hai người gặp lại nhau sau mười, hai mươi năm - nhưng mỗi người đã thuộc về một gia đình khác. Những câu chuyện ấy - không có câu chuyện nào giống với câu chuyện nào - dù đau bao nhiêu, cũng không mang theo lời trách móc. Chúng chỉ cho thấy con người nhỏ bé đến nhường nào trước những biến động lớn. Và trong sự mong manh ấy, ta lại thấy rõ hơn tình người, sự chịu đựng, và những cố gắng âm thầm để sống tiếp, dù trái tim còn mang một vết cắt không bao giờ liền hẳn. Gọi là vết thương thế kỷ của người di tản. Là kiếp sống của người lưu vong.