Sunday, September 6, 2026
NHỮNG CON TÀU ĐÃ KÉO NGƯỜI VIỆT RA KHỎI CÕI CHẾT
Biển Đông năm ấy không chỉ có sóng...
Biển Đông có tiếng khóc trẻ con khản đặc vì khát nước...
Có những người mẹ ôm xác con mà không dám buông tay...
Có những người cha nhìn ra chân trời đen đặc, biết chiếc ghe gỗ của mình không thể sống nổi thêm một đêm nữa...
Và giữa mênh mông tuyệt vọng ấy… đã có hai con tàu mang hình dáng của thiên thần.
Île de Lumière và Cap Anamur.
Không biết hôm nay… những người từng được vớt lên từ lòng biển chết ấy còn nhớ không?
Có còn nhớ khoảnh khắc nhìn thấy lá cờ lạ ngoài khơi?
Có còn nhớ tiếng người thủy thủ hét lớn bằng thứ ngôn ngữ mình không hiểu… nhưng nghe như tiếng cứu mạng?
“Đừng sợ! Chúng tôi đến cứu các bạn!”
Một người đàn ông từng vượt biên kể lại: “Lúc đó ghe tôi gần chìm rồi… máy hư, nước tràn vô. Đứa con gái tôi mới ba tuổi nằm mê man vì sốt. Vợ tôi chỉ biết ôm con mà khóc:
— Mình ơi… chắc gia đình mình chết ngoài biển rồi…
Tôi không trả lời được... Vì chính tôi cũng nghĩ vậy.”
Ông nói, đúng lúc ấy, từ phía xa xuất hiện một con tàu trắng. Ban đầu ai cũng tưởng hải tặc. Cả ghe im phăng phắc. Rồi có người bật khóc khi thấy trên tàu có dấu thập đỏ. Một thủy thủ người Đức quăng dây xuống, vừa kéo vừa la lớn:
— Slowly! Slowly!
— Children first!
Người mẹ trao đứa con gái nhỏ lên trước.
Đứa bé đã bất tỉnh.
Một nữ y tá ôm lấy nó, chạy thật nhanh vào trong.
Người mẹ quỵ xuống boong tàu, vừa khóc vừa chắp tay:
- Trời ơi… con tôi sống rồi… con tôi sống rồi…
Không ai trên con tàu ấy hiểu tiếng Việt...
Nhưng hôm đó… mọi giọt nước mắt đều hiểu nhau...
Có những người được cứu bởi tàu Pháp, Île de Lumière — “Đảo Ánh Sáng.”
Cái tên nghe như một phép màu. Và đúng là phép màu thật.
Giữa những trại tị nạn đông nghẹt ở Pulau Bidong, nơi bệnh tật và đói khát bao trùm, con tàu ấy trở thành bệnh viện nổi giữa đại dương.
Có người kể: “Tôi bị sốt rét và kiệt sức. Tưởng mình chết rồi. Một bác sĩ người Pháp nắm tay tôi, nói chậm chậm:
- No die… no die…
Tôi đâu hiểu tiếng Anh. Nhưng nhìn ánh mắt ông ấy… tôi bật khóc.”
Người bác sĩ đó không hỏi họ theo phe nào.
Không hỏi họ giàu hay nghèo.
Không hỏi họ đến từ miền Bắc hay miền Nam.
Ông chỉ cứu người.
Rồi sau đó là Cap Anamur — con tàu đã kéo hơn mười ngàn người Việt ra khỏi cửa tử.
Nhiều thuyền nhân đến hôm nay vẫn gọi ông Rupert Neudeck là “ân nhân tái sinh.”
Có người già nghẹn ngào nói với con cháu mình: “Nếu không có Cap Anamur… thì hôm nay làm gì có ba. Làm gì có tụi con…”
Một câu nói nghe nhẹ tênh.
Nhưng bên trong là cả một nghĩa trang nằm dưới đáy biển.
Điều đau nhất là… nhiều người được cứu năm xưa giờ đã già. Con cháu họ lớn lên ở Mỹ, Canada, Úc, Đức…
Cuộc sống cuốn đi. Có thể vài người đã quên mất tên con tàu từng cứu gia đình mình.
Quên luôn khuôn mặt người thủy thủ đã bế mình từ ghe lên boong tàu năm đó.
Nhưng lịch sử thì không được phép quên.
Vì giữa một thế giới từng quay lưng với thuyền nhân Việt Nam… đã có những con người xa lạ dám lao tàu ra biển chết để cứu những người họ chưa từng quen biết. Họ không cùng màu da.
Không cùng ngôn ngữ.
Không cùng quê hương.
Nhưng họ đã cứu người Việt bằng chính trái tim của mình.
Xin được cúi đầu tri ân:
Bernard Kouchner
Rupert Neudeck
và hàng ngàn bác sĩ, y tá, thủy thủ, tình nguyện viên Pháp và Đức năm xưa.
Họ không sinh ra ở Việt Nam.
Nhưng lại là những người giữ cho biết bao gia đình Việt Nam còn được tồn tại đến hôm nay.
Có những tượng đài không xây bằng đá.
Mà được dựng lên bằng sinh mạng con người được cứu sống.
Và Île de Lumière cùng Cap Anamur chính là hai tượng đài như thế.
Dấu Xưa
Dấu Xưa
Saturday, September 5, 2026
Wednesday, September 2, 2026
Tuesday, September 1, 2026
ẢO ẢNH
Tình Thu
Tình Thu
Vàng thu lá đổ đầy sân
Khói sương mờ mịt cõi trần thu ơi
Cố hương còn khuất bên trời
Tình thu tha thiết nhớ lời tri âm!.
Hồn thơ còn chút tơ tầm
Dệt lời tâm sự âm thầm…gió bay
Thương đời bao nỗi đắng cay
Thương mình khoắc khoải tháng ngày phù hư
Quê xưa chợt khóc chợt cười
Thu nầy ủ dột một trời tha phương
Lá rơi có biết về nguồn
Hay theo chiều gió bên đường tả tơi?.
Người đi còn lạc bên trời
Lá bay lá rụng ngậm ngùi bơ vơ
Tình thu thổn thức gió đưa
Thương ai cô phụ thẫn thờ đợi trông!
Lá vàng theo nuớc xuôi dòng
Người đang lỡ buớc cõi lòng xót đau
Cớ sao cây lá cũng sầu
Xanh tươi một thuở nay màu vàng phai?
-Vì thu vướng nỗi u hoài.
Tình thu sầu để lòng ai thẩn thờ
Lá vàng như lá tình thư
Gửi người phương cũ bơ vơ muộn chiều!
Hàn Thiên Lương
Sunday, August 30, 2026
ĂN TRƯA Ở SÀI GÒN
Mùa Thu Bí Ngô
Mùa Thu Bí Ngô
Thanh Hà
Trong bốn mùa, mùa nào cũng có nét đẹp riêng của nó cả.
Xuân là tiết giao thời từ giá lạnh sang tươi vui. Cây bắt đầu chuyển mình nhú lộc non
mơn mởn. Là tết Nguyên Đán nhà nhà người người rộn ràng chào đón cầu mong
năm mới sẽ còn hạnh phúc may mắn hơn năm cũ.
Hạ ấm áp, ngàn hoa khoe hương sắc, ong bướm lượn la đà. Học trò kết thúc niên
học náo nức về những ngày nghỉ được rong chơi thoả thích. Người lớn cũng mong
có những ngày nắng ấm để tạm gác lại công việc đơn điệu nhàm chán thường nhật,
ra nô đùa cùng sóng biển.
Đông giá lạnh, gió bấc tái tê, tuyết phủ trùm lên vạn vật một màu trắng tinh khôi đến
loá mắt. Những người thích thể thao cục cựa mở nhà kho mang đôi giày trượt ski và
quần áo giữ ấm sẵn sàng cho các chuyến lên núi. Là mùa ông già Noel sẽ cỡi con
tuần lộc mang quà phân phát cho mọi trẻ con trên thế giới.
Nhưng hình như mùa thu mới là đề tài bất tận cho các thi, văn, nhạc sĩ viết về nhiều
nhất. Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư săn lùng các phong cảnh đẹp
quyến rũ mê hồn.
Là mùa của rừng phong lá đỏ, trong truyện Kiều thi hào Nguyễn Du có nhắc:
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
…Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
Là mùa của lá vàng xào xạc rơi:
Em không nghe mùa thu/ Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô
(Tiếng Thu, Lưu Trọng Lư)
Saturday, August 29, 2026
Pleiku Thơ-Nhạc Chương Hà - Suno AI - Video Son Do
Bài thơ Pleiku viết ghi kỷ niệm một thời chinh chiến, đã được nhạc sĩ Mai Đằng phổ thật hay, nay tôi xin phổ lại trong điệu Deep Blue, với chút tình yêu ngắn gủi, xót xa, lo lắng. Xin chia sẻ

