Tuesday, April 8, 2025

Quốc Tổ Hùng Vương Thơ Trần Quốc Bảo


 Inline image

 

 

Quốc Tổ Hùng Vương   

 

Dù ai lưu lạc đường xa,

Nhớ ngày Giỗ Tổ, tháng Ba, mùng Mười

Tổ Hùng Vương, mười tám đời, (*)

Trường tồn thiên địa, rạng ngời trăng sao.

 

Đền Hùng ở phủ Lâm Thao,

Trên sườn Nghĩa Lĩnh, non cao chập chùng,

Giữa sông Lô và sông Hồng,

Giang sơn cẩm tú, một vùng địa linh.

 

           

Giống nòi Quốc Tổ khai sinh,

Công ơn lập quốc, định hình núi sông.

Chim có Tổ, người có Tông,

Việt Nam nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên.

 

Toàn dân ở khắp mọi miền,

Một lòng thờ kính Tổ Tiên muôn đời.

Dù ai đi ngược về xuôi (ca dao),

Nhớ ngày giỗ Tổ, mùng Mười, tháng Ba./. 

 

          Trần Quốc Bảo

                Richmond, Virginia       

           Địa chỉ điện thư của tác giả: 

        quocbao_30@yahoo.com

 (*)

 Inline image

Sài Gòn, Nỗi Nhớ - Huy Phương

 

 Huy Phương 





Mỗi người miền Nam đều có một quê hương, một thành phố, dù đó là Ðà Lạt, Nha Trang, Cần Thơ hay Sóc Trăng… nhưng tôi nghĩ rằng mỗi người dân miền Nam từ ngày rời bỏ quê hương ra hải ngoại đều có một chút Saigon mang theo.

Ðó là kỷ niệm của những ngày trọ học, chỗ sinh sống làm ăn, hay nơi một lần ghé qua để chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Chúng ta không nhớ Saigon với phong cảnh hữu tình, tiếng thông reo hay câu hò trên bến nước, mà nhớ nhiều đến âm thanh của một Saigon rộn rịp không bao giờ ngủ, với tiếng động cơ xích lô máy nổ giòn giã buổi sáng ra chợ, tiếng chuông xe thổ mộ leng keng, tiếng rao hàng lanh lảnh mà ngọt ngào hay tiếng “sực tắc” của xe mì qua xóm… Saigon với âm thanh tiếng chuông sáng của Vương Cung Thánh Ðường, tiếng chim sẻ rộn ràng trên tàng cây xanh quãng đường Hồng Thập Tự hay tiếng còi tàu rời bến Khánh Hội. Saigon còn cho chúng ta mùi vị khó quên, dù ngay đó là hương cà phê bốc lên từ cái quán cóc đầu ngõ, mùi xăng khét lẹt trên đường hay cả mùi cống rãnh của con kinh ở xóm ngoại ô.

Cafe La Pagode giữa Sai Gòn

Tôi biết Saigon từ năm mười bảy tuổi. Bà bác họ giới thiệu cháu bà với lối xóm: “Nó ngoài nước Huế mới dô!”, thì ra chỉ có những người như bác mới là “người Diệt”. Ðối với tôi, Saigon thuở ấy đúng là một “nước khác”, có nhiều điều lạ lùng mà tôi chưa hề thấy, hề nghe. Từ những xe taxi Renault 4 sơn màu xanh nhỏ nhắn, chiếc xích lô máy nổ phành phạch, những rạp “ciné permanent” (thường trực), tờ bạc giấy một đồng được xé đôi, xe nước mía Viễn Ðông quay tay và khay “phá lấu” của chú Chệt trước chùa Chà, góc Pasteur và Bonard. Thuở ấy, lần đầu tiên trong đời tôi được ăn miếng phá lấu chấm tương ớt do người bạn mời, mà ăn ngoài đường phố đông người qua lại, tôi ngượng chín người, cứ nhìn quanh, xem có ai quen biết với mình không, mới rụt rè đưa miếng gan gà lên miệng. Từ đó, tôi học cách sống của Saigon, nghĩa là thói quen và cả phong tục, thảo nào mấy năm sau khi trở lại Huế, cha tôi đã nói với tôi: “Ði Saigon về, mi thay đổi quá nhiều!”

Phần tôi không bao giờ quên Saigon với những cơn mưa mau, những chiều nghỉ học trong rạp thường trực Bonard (Vĩnh Lợi), mùi vị của bát phở “Bắc di cư” Hợp Lợi, Kim Long ở đầu đường Lý Thái Tổ hay trong con hẻm Pasteur. Về sau khi dọn về Xóm Cỏ, Dakao, rồi Thị Nghè, tôi biết thêm “cái bình dân” của những quán cà phê thâu đêm, nhưng sinh hoạt buôn bán lúc về sáng, con kinh nước đen và những cái cầu cá, nơi gặp gỡ của bà con lối xóm.

Chợ Bến Thành

Ai lại không có một chút Saigon trong trí nhớ, đây Duy Tân với “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt”, đó Tân Ðịnh với “em tan trường về, đường mưa nho nhỏ”.

Saigon vẫn tượng trưng cho một vùng đất quê hương, tỏa sáng như ngọn hải đăng cho bao nhiêu đợi chờ và hy vọng, cũng là tiếng gọi thầm kín của một thời của miền Nam. Mất Huế chỉ là mới bỏ Huế mà đi, mất Phan Rang cũng còn hy vọng, nhưng mất Saigon là mất cả nước. Ta bỏ Huế ngậm ngùi ra đi nhưng mắt còn khô lệ, ta nhìn lại Phan Rang, lòng tan nát, mắt đã đỏ hoe, nhưng khi phải bỏ Saigon, Saigon mờ trong màn nước mắt.


Như Cao Xuân Huy, đóm lửa thuốc lào cháy đến đầu tay không thấy nóng, như những người tù binh từng vào sinh ra tử, trong đất địch ngồi nín lặng mất hồn. Saigon mất rồi, đất trời sụp đổ, niềm hy vọng cuối cùng đã tắt lịm.

Saigon từ ngày ấy đổi tên, nhà nhà đóng cửa tắt đèn, những dòng nước mắt nghẹn ngào nuốt ngược vào lòng. Bạn bè đã bỏ Saigon ra đi trong cơn hối hả, anh em tôi rời Saigon trong chuyến xe bịt bùng đi vào nơi tù đày thâm sơn cùng cốc, và chị, tay xách tay bồng trên chuyến xe lam giã từ Saigon đi vùng “kinh tế mới”. Hôm nay đầu ngõ, tiếng loa trấn áp, dọa nạt thay cho tiếng nhạc vàng. Nhiều tượng đài lịch sử bị phá đổ, những khẩu hiệu biểu ngữ kéo đỏ mặt đường.

“Từ thành phố này người đã ra đi” tha phương cầu thực, để mười mấy năm sau mang đại họa về cho đất nước. Từ đó như Trần Dần: “Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ!”

Saigon bây giờ còn chăng chỉ còn trong trí nhớ. Những người trở lại Saigon hôm nay như trở lại căn nhà ngày xưa yêu dấu một thời, nhưng căn nhà đã đổi chủ, trên những con đường đã đổi tên, với số nhà đã xóa vết. Con chó giữ nhà sủa dai người khách lạ đang tìm về ngôi nhà của chính mình thuở trước, bùi ngùi trước “dẫy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?” Anh em chúng tôi mỗi người một ngả, kẻ đã nằm dưới biển sâu, người nắm xương rừng thẳm, oan khuất chưa tan. Chúng tôi, những người cầm súng một thời, canh cánh bên lòng, xót xa đã để mất Saigon.

Sài Gòn trước 75


Chúng ta nhớ nắng Saigon “em đi mà chợt mát” nhưng cũng không quên mưa Saigon “rồi chiều mưa ai đón đưa em”. Ngày đã đau nỗi mất Saigon “ta mất người như người đã mất tên”, nhưng đêm lại nhớ Saigon trong từng kỷ niệm “tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa, ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa”.


Chúng ta đã bỏ Saigon ra đi, nhưng từng con đường, từng góc phố vẫn còn như hiển hiện trong tâm trí chúng ta. Từng tiếng chim, từng tiếng guốc, từng tiếng chân ngựa của chuyến xe thổ mộ buổi sớm mai, cả từng tiếng còi xe vội vã… Saigon vẫn như sống dậy mỗi ngày trong nỗi nhớ khôn cùng.


Một câu nói thoạt nghe rất đơn giản nhưng là một danh ngôn: “Mất đất nước là mất tất cả.” Ðòi lại sông núi có khi phải dùng súng dùng gươm, đòi lại một cái tên thành phố không thể nói bằng lời. Khi chế độ Cộng Sản đi vào quá khứ, thành phố này lại là của ta.


Năm 1924, suy tôn các lãnh tụ Cộng Sản, Liên Xô đổi tên thành phố Saint Petersburg thành Leningrad. Năm 1925, Volvograd trở thành Stalingrad. Tháng 5 năm 1975, Cộng Sản Việt Nam quen thói học đòi, xóa tên Saigon đổi ra “thành phố HCM.” Trên văn bản, báo chí, có năm chữ, nhưng khổ nỗi người Việt không ưa nói dông dài, cắt bớt ba chữ chỉ còn lại hai, bỏ tên Hồ Chí Minh mà gọi gọn là “thành phố”. Do đó người dân Cần Thơ nói lên “thành phố” thì phải hiểu là đi Saigon, dân Hà Nội nói “vào thành phố” là vô “Saigon”. Nhưng rồi HCM City sẽ còn tồn tại được bao lâu?

Trường Nữ Trung Học Gia Long


Năm 1961, tên Stalin phải chịu số phận đào thải để trả lại tên cho Volvograd. Năm 1991, tên Lenin bị xóa bỏ cho thành phố St. Petersburg hồi phục tên mình. Volvograd mang tên Stalin được 36 năm, St. Petersburg tròng vào cổ tên Lenin lâu lắm cũng chỉ được 66 năm. Saigon sẽ về lại với chúng ta, cũng như chúng ta sẽ về lại với Saigon, tên Hồ Chí Minh sẽ bị chôn vùi theo số phận của các “sư tổ” Lenin, Staline theo những cơn sóng thần lịch sử. Chúng ta về để xây lại phần mộ anh em trong nghĩa trang điêu tàn, thắp nén hương trên mồ mả ông cha, cúi đầu gửi một lời tạ lỗi vì chúng ta đã để mất Saigon.

Bây giờ ngày tháng qua mau, đất khách tuổi già, quê người tóc bạc… Saigon vẫn còn là một nỗi nhớ.

Huy Phương

Sài Gòn Còn Mãi Trong Tôi

 Bản Sài Gòn Còn Mã Trong Tôi, thơ Tha Nhân Trần chương Lương viết nhạc, Ca sĩ Tâm Thư trình bày trong PPS Quảng Đà

KIÊN GIANG MÌNH ĐẸP LẮM - HOÀNG CHÂU

 

Sài Gòn Tôi, Những Ngày Còn Mang Tên

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh




1
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu.

Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời.

Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống.

Cao Vị Khanh: Bài tùy bút tháng Tư

 

Cao Vị Khanh

Hình minh họa: Dương Nhân

Giả sử bắt chước Thanh Tịnh …

… Hằng năm cứ vào cuối thu, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của  buổi tựu trường …

mà viết lại …

… Hằng năm cứ vào đầu xuân khi lá ngoài đường trổ xanh và trên không bỗng bay về những bầy chim trốn tuyết, lòng tôi lại xốn xang những kỷ niệm bàng hoàng của buổi tan trường … năm đó.

Sunday, April 6, 2025

Chuyện Tình Buồn- Trình bày: Chương Hà

 Trong đời có biết bao chuyện tình buồn Cảm quan hay đồng cảnh chắc sẻ chia ̣được niềm cảm xúc Mời thân hữu cùng nhau thưởng thức khúc nhạc rất hay và rất phổ thông xưa

Chuyện Tình Buồn
nhạc Phạm Duy phổ từ thơ Phạm Thanh Bình
trình bày Chương Hà

EM DI Video 2

 

ĐÀ LẠT PHỐ NÚI, Thơ Hồng Thúy, Nguyễn Tuấn, Hà Thanh, Hùng Đặng

 


Đà Lạt Phố Núi Thơ: Hồng Thúy Nhạc: Nguyễn Tuấn Ca sĩ : Hà Thanh Hòa âm : Đỗ Hải THƠ ĐÀ LẠT PHỐ NÚI Đà Lạt thân yêu cao nguyên phố núi Nhớ nắng mênh mang ôm dáng hàng cây Xuân Hương đôi bờ mơ xanh liễu rũ Chan chứa tim ai tiếng gió reo Đồi Cù Buổi chiều Cam Ly hẹn hò xưa vẫn thắm Thung Lũng Tình Yêu đôi bóng còn vương Muôn lời Than Thở lòng nghe xao xuyến Em nhắn gì trong lam tím hoàng hôn? Về Tuyền Lâm khói sương rơi mờ lối Trắng Thác Prenn ngỡ cơn sóng ngàn khơi Cõi hoa vàng Mộng Mơ đầy tay với Mimosa say đắm cả trời mây Chợ Hòa Bình, Trại Hầm từng con dốc Bước chân qua Palace áo mềm bay Thủy Tạ ơi! hương tình cà phê cũ Xứ hoa đào, Đà Lạt nhớ không vơi Hồng Thúy

Friday, April 4, 2025

UHoài




Mưa Buồn Long Giao - Hà Thượng Nhân - Nguyễn Văn Thành - An Minh

 


HÀ THƯỢNG NHÂN - Mưa Buồn Long Giao



Nhà thơ Hà Thượng Nhân tên thật là Hoàng Trinh, sinh năm 1920, (có tài liệu ghi rằng ông sinh năm 1919) quê làng Hà Thượng, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1945, ông được thầy Phạm Xuân Độ nhận làm nghĩa tử, nên đã được đổi tên thành Phạm Xuân Ninh. Sau này, ông lấy bút hiệu Hà Thượng Nhân là để kỷ niệm về nơi chôn nhau cắt rún của mình.

Quốc Hận 2025- 50 năm Tha Hương-

 Kính thưa quý niên trưởng, anh chị em bạn hữu, thân hữu, quý hội đoàn QLVNCH, Blogger hải ngoại...

Tháng 4 đen kể từ năm 1975 đến nay 2025 là 50 năm quốc hận đối với người miền Nam Việt Nam là năm vô cùng kinh hoàng và không bao giờ quên ngày 30 tháng 4 qua những bài vọng cổ sau đây, kính mời quý vị thưởng thức và xin vui lòng chia sẻ. Xin cám ơn quý vị

LMH (thuyền nhân 1979+goá phụ cố SQ QLVNCH)


Cổ nhạc miền Nam:


*Quốc Hận 30 tháng 4 - Tác giả Thanh Bình
https://www.youtube.com/watch?v=p_dP2OJylEs


*Nam Quan đỗ lệ - Cố soạn giả Nguyễn Phương
https://www.youtube.com/watch?v=0CaGmahSk00


*Bức tâm thư của ngoại - Tác Giả Hữu Trí
https://www.youtube.com/watch?v=YK2L_IAtGJc


*Tâm sự thuyền nhân - Ngô quang Võ Canada
https://www.youtube.com/watch?v=JToTVide92s


*Biển cả và tự do - Tác giả Bảo Ngọc
https://www.youtube.com/watch?v=yCvzJRGu4gg

Thursday, April 3, 2025

Cho Người Nằm Xuống Trên Quê Hương - Phan Nhật Nam





Cảm giác Sự Chết vốn sẵn có từ lâu qua thân phận Người Lính trên Quê Hương Miền Nam Việt Nam. Đấy là Năm 1965, với cơn mưa u uất mùa hạ Miền Nam, nơi Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp. Mưa không đủ lớn, không dài lâu để cho ta có cảm giác được tẩy rửa, cuốn trôi. Mưa âm âm, ngột ngạt làm bốc dầy thêm mùi xác chết của những đơn vị gồm Tiểu Đoàn 2, Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 Bộ Binh; Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân; và Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù với những người lính mà sức chịu đựng dường như vô hạn dưới khối nặng của thùng đạn, ba-lô, nón sắc, vũ khí họ mang trên vai, vác lên lưng, để từng ngày cúi gầm mặt bước xuống vùng sình lầy mênh mông, trèo lên dốc đá núi thăm thẳm, lội xuyên rừng rậm ngút ngàn không tiếng nhỏ than van, ghìm lại hơi thở dài nặng nhọc... Tất cả những người lính cao thượng khắc kỷ vừa kể ra vào những ngày của tháng 6 năm 1965 ấy đã là những xác chết căng cứng, da tím sẫm bốc mùi xanh xao tanh tưởi... Những khuôn mặt, dạng người tinh anh tươi trẻ của tuần, tháng trước biến dạng thành những khối thịt ủng lầy máu sẫm, đất bùn đỏ, nhầy nhụa thêm bởi thấm mưa của bao ngày nằm nơi đụng trận, một chốn gọi là xã Đồng Xoài, Quận Đôn Luân, Tỉnh Bình Dương, nơi chỉ xa Sài Gòn khoảng năm-mươi cây số đường chim bay.