Sunday, April 3, 2011

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản

_____________


Hoàng thị Tố Lang





Tên tôi là Nguyễn thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa - đảo Guam- một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi. Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời. Tôi đã là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Thế mà đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 35  năm qua...

Đã 35 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự "Người di tản buồn" của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc "Người di tản buồn" của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn

THÁNG TƯ, ĐỌC LẠI "TA VỀ " CỦA TÔ THÙY YÊN

________________



PHAN


Được gặp nhà thơ Tô Thùy Yên một lần tại Houston. (Hôm Nhà thơ Phan Xuân Sinh ra mắt sách “Sống Với Thời Quá Vãng”). Buổi trò chuyện tại nhà anh Sinh đến nửa đêm, trong tiếng đàn thùng của anh Ngu Yên, giọng ngâm không dứt của anh Trần Khánh Hoà, liên khúc Trần Thiện Thanh do anh Đỗ Xuân Quang-Atlanta bắt nhịp. Anh Trần Hoài Thư, Trần Phù Thế, Lương Thư Trung, Hoàng Định Nam, Trà Nguyễn… có cả, mỗi người mỗi vẻ ngây thơ trong đôi mắt già nua bất luận. Một đêm thơ nhạc sẽ còn hoài trong ký ức những người dính líu tới con chữ ở hải ngoại.
Ngoài hiên, Nhà thơ Tô Thùy Yên trò chuyện cùng tôi và Đinh Yên Thảo như những người quen gặp lại. Dù chỉ gặp lần đầu, trong chữ “Duyên” cửa Phật mà thành lấn cấn tới hôm nay. Ngồi đọc lại bài thơ “Ta về” trong tiết tháng Tư, nơi sân sau nhà vắng. Chút gió xuân nồng nàn nhà bên cắt cỏ… Giấc mơ chiều, người nông dân chỉ mong được về quê vỡ đất, tháng tư đi tậu trâu bò/ để ta tiếp tục làm mùa tháng năm…
“Ta Về” là một bài thơ, bài hịch… không quan trọng. Điểm cốt yếu của một giai đoạn lịch sử bi hùng gói gém trong đó qua câu chữ chắt chiu từ chiến tranh và tù đày - không - chưa đủ. Còn có một trái tim và tri thức làm chất liệu để hình thành nên tác phẩm để đời này. Giả sử, không có cuộc chiến Việt Nam. Thơ ca miền Nam vẫn có Tô Thùy Yên nhưng không có bài thơ “Ta về”. Aùng văn vần chiêu hồn bại sĩ, tổ quốc trong tâm thức một người đi qua chiến tranh và hệ lụy. Cuộc chiến thắng súng đạn của kẻ ác nhưng không thắng nổi những người bất bại, không thắng nổi tri thức và tâm thức miền Nam. Không biết một người đời sau, thiếu hít thở không khí đạn mìn, mùi máu tươi trên những xác người vô tội. Không được “khiêu vũ với bầy sói” trong những nhà tù cải tạo… có làm lệch lạc, thô thiển, hiểu sai những lời bi thống về lịch sử được vắt ra từ tâm thức người viết. Dù sao, thơ, không viết cho mình. Xin mạn phép thăm tìm lịch sử qua thi phẩm ‘Ta về”.

Friday, April 1, 2011

Điệp Khúc Cho Tháng Tư -NSS

______________

Như những ngày đầu nhục nhã
Bọn vô nghì lấy troí xích tay anh
Đồng bào ơi hai đòng lệ long lanh
Khóc cho nước hay khóc mình lỡ vận

Như những mùa đông nối tiếp
Lạnh như lòng mình lạnh cuối tháng tư
Ôi chuyến tàu định mệnh buổi tàn đư
Mình ao ước một ngòi bom bộc phá

Như những tháng ngày mòn mõi
Có cụ già cho lon gạo vừa xay
Hỏi anh rằng quân giặc ấy là ai ?
Anh không đáp chỉ mim? cười chua xót !

Như những bài thơ tiền chiến
Dạy con em thù giặc thuở còn thơ
Giặc là ai, ai là giặc bây giờ
Muốn đáp được xin hãy chờ lịch sử

Xem phim Cánh đồng bất tận-

___________



Cánh đồng bất tận hút hồn đông đảo dân Hàn Quốc

Phiên bản poster phim tại LHP Pusan.

Cánh Đồng Bất Tận





 Xem phim
 

    
Dựa trên giọng văn miêu tả sâu sắc của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, bộ phim Cánh Đồng Bất Tận nổi bật lên với những khung hình nghệ thuật về cuộc sống miền sông nước trong giai đoạn hiện nay. Sau 6 năm kể từ khi đọc được truyện ngắn Cánh Đồng Bất Tận, đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình mới bắt tay vào làm phim. Chính tác giả Nguyễn Ngọc Tư cũng từng thừa nhận rất khó khi chuyển tải truyện thành kịch bản làm phim, nhưng với những nỗ lực và niềm đam mê nghệ thuật của cả đoàn làm phim, bộ phim điện ảnh Cánh Đồng Bất Tận đã ra đời.

Bông lau buồn - Chân Diện Mục

_____________



                                                          Poster do thầy Võ văn Trí thực hiện                    

Như Là Bóng Sậy Bên Đường

______________
Nguyên Nhung


                                                   Poster by Nguyên Nhung

Em chỉ là bóng sậy nhỏ nhoi
Luôn có mặt nơi đầu ghềnh cuối bãi
Trời đất mênh mông
Bạt ngàn cỏ dại
Gió bốn mùa thổi rạp cánh đồng lau
Em lả mình theo ngọn gió lao chao
Chợt đứng dậy khi bão yên gió lặng
 
Những cánh đồng xa
Tưởng chừng vô tận ...
Vẫn có em hiện diện ở nơi này
Dáng đứng gầy gò phận hèn cỏ dại
Vương chút buồn se sắt lúc hoàng hôn
Chiều phương xa khách dừng lại bên đường
Nghe lau lách thở than lời thương nhớ
 
Cây sậy dễ thương
Mọc ở ven đường
Xúm xít bên nhau để tìm nguồn  sống
Biết vươn lên với trời cao đất rộng
Biết ngả mình khi gió táp mưa giông
Bên bờ sông sậy nghiêng mình soi bóng
Chờ một ngày lau lách cũng đơm hoa
 
 
Những cánh đồng lau khi tuổi đã già
Tóc trắng đậm đà
Lả theo ngọn gió
Trông yếu ớt mà không hề gục ngã
Thân rất mềm mà chịu được phong ba
Nắng thiêu cháy những cánh đồng cỏ dại
Lau lách buồn hiu
Mùa sậy trổ hoa
 
 
Xin cảm ơn bóng sậy cánh đồng xa
Đã khai phá cho tâm hồn rộng mở
Đường đời chông gai
Bao lần đau khổ
Khác gì đâu cây sậy ở bên đường
Trên những cánh đồng gom gió mười phương
Đất cằn khô vẫn bạt ngàn lau lách . . .
 
Nguyên Nhung
Tháng Tư/ 2011
 
 

Wednesday, March 30, 2011

Tôn Sư Ca - Phan Ni Tấn


____________

 Ghi lại Chút kỷ niệm của Kiên Giang Reunion Trường xưa Lớp cũ tại Toronto Canada July 2002
như một lời giới thiệu cho Hội Ngộ Liên Trường Kiên Giang vào July 2011 sắp tới  tại Houston Texas  

Tha Hương

Đêm Tha Hương

_________________

Xe đò Hoàng ở California

________________
Nguyễn Tài Ngọc



 Chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội Cộng Sản đâm đổ hàng rào Dinh Độc Lập của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 30-04-1975 đánh dấu sự chấm dứt của cuộc chiến Nam Bắc, nhưng nó cũng bắt đầu cuộc phiêu lưu của 135,000 người Việt tỵ nạn sang Hoa Kỳ. Là quốc gia đã có bao kinh nghiệm đối phó với vấn đề tỵ nạn của người Âu Châu sang Mỹ vào Đệ Nhất Thế Chiến và Đệ Nhị Thế Chiến, Tổng Thống Gerald Ford đã vạch sẵn chính sách đón nhận người Việt tỵ nạn: phân tán tất cả mọi người trên năm mươi tiểu bang trên nước Mỹ.

Chính sách phân tán này thực hiện được bốn điểm chính:
1.     Tái định cư người tỵ nạn một cách nhanh chóng để họ có thể tự túc dễ dàng sau này.
2.     Tránh được một số đông người tỵ nạn tập trung vào chỉ một thành phố làm tỷ lệ thất nghiệp của thành phố đó sẽ gia tăng vì không đủ công việc.
3.     Tìm người bảo trợ dễ dàng hơn trong việc hoà đồng người tỵ nạn vào đời sống nước Mỹ.
4.     Tránh được một khu đông dân cư nghèo đói mà dân vùng đó toàn là người đến cùng một quốc gia.

Thế nhưng mình có câu “Tổng Thống Mỹ tính không bằng dân An Nam Mít tính”. Vì lý do thời tiết và vì muốn sinh sống nơi đông dân cư,  dân Việt Nam từ khắp mọi nơi dồn về ba tiểu bang Florida, Texas, và nhiều nhất, California. Năm 1975 số người Việt tỵ nạn ở California chỉ là 20% tổng số dân tỵ nạn. Đến năm 1980 con số đó nhẩy vọt lên 35%, và cho đến năm nay, khi những gia đình làng xóm của tôi ở chợ Bàn Cờ là ông Phó Bạc, bà Tư Rỗ, ông Trọng bán tem, chú Tám Tôm Càng, chị Bá bán bar dọn về Santa Ana ở đông với nhau cho vui thì tỷ lệ người Việt Nam ở California bây giờ đã tăng lên một triệu phần trăm. Buổi  chiều nấu cơm có thiếu trứng gà thì qua nhà kế bên gõ cửa chị Ba làm nail mượn đỡ hai trứng , khỏi cần ra siêu thị mua.

Tuesday, March 29, 2011

Vẫn còn mãi yêu- Mã Quốc Thái

_______________

Chuyện kể trên biển đêm

____________

Võ kỳ Điền

Cả bọn chúng tôi cơm nước xong xuôi thì trời vừa sụp tối. Cái mặt trời chói lọi tỏa ra hơi nóng hừng hực ban chiều đã lặn đi đâu mất tiêu nhường chỗ cho bóng tối tràn lan bao phủ khắp cái biệt thự này. Tôi đứng dậy ngó quanh ngó quất cố tìm một vật gì để thế cây tăm xỉa răng nhưng vô ích, cả gian phòng trống rỗng. Không có gì hết ngay cả một cọng chưn nhang. Hồi nãy khi ăn cơm, mấy người đàn ông, đàn bà và hơn sáu bảy đứa con nít đều phải ngồi bệt xuống sàn gạch bông sau một buổi trời hì hục quét tước, lau chùi cho sạch sẽ. Người ta đã khiêng đi đâu mất hết bàn ghế, tủ giường, nồi niêu soong chảo... luôn cả mấy cánh của sổ, cửa ngăn bằng cây. Căn nhà trống hốc. Còn rác rến, giấy vụn, vải rách, bụi bặm thì vương vãi đầy nhà. Trên trần và vách, dây điện đứt treo lủng lẳng. Nhưng mấy thứ còn lại đó, đám người vượt biên theo kiểu bán chánh thức tụi tôi đâu có lấy làm chi. Căn nhà bị khai thác tận tình như một cô gái ăn sương rẻ tiền về sáng chỉ còn trơ bộ mặt hốc hác, loang lổ phấn son. Vậy mà khi mới được công an chở tới đây, thằng Dân ngó trực thấy cái vẻ đồ sộ bên ngoài, có vẻ khái chí khều tôi nói nhỏ:
- Nè, anh Ba, tụi nó lựa cho mình cái "quy-la" nầy sang quá hả. Đã thiệt! Cái thằng thiệt tình, lúc nào miệng cũng lách chách không để lành da non. Tôi với nó không quen biết gì ráo trọi, tình cờ gặp nhau trong chuyến vượt biên do một người Việt gốc Hoa bán hủ tiếu đứng lo tổ chức. Tôi thứ bẩy, vậy mà nó gọi tôi bằng anh Ba gọn bân, ngon lành. Ối, ai hơi đâu mà cải chánh làm chi. Lúc đó tôi đứng vịn cái cổng sắt kiên cố, nhìn thấy cái sân rộng trải sỏi trắng, những cây hoa móng bò, hoa sứ, hoa tường vi trồng dọc theo lối đi, có hai cây tùng Nhật Bổn xanh um ở trước cửa đi vào nhà, trong bụng chịu quá mà còn làm giọng sang:
- Ừa ừa cũng tạm được nhưng nghe nói thiếu giường, thiếu chiếu làm sao mà ngủ... Nó quay qua nhìn soi mói, nói giọng nhão nhẹt:

Monday, March 28, 2011

Mưa

____________________

Hoàng Trúc

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang qua đời tại California

__________________

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của Phong trào Du Ca Việt Nam, đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 68.

RFA file photo
Nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang trong chuyến viếng thăm thành phố Falls Church, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ cách nay vừa tròn 6 năm (ngày 27-03-2005)
Theo thông báo của gia đình và bạn hữu, Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang qua đời lúc 4 giờ sáng ngày Chủ Nhật 27-03-2011, sau hơn một tháng bị tai biến mạch máu não.

Nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang bắt đầu sáng tác năm 1961, với ca khúc “Gươm thiêng hào kiệt,” dành cho phong trào Hướng Ðạo.

Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam Việt Nam vào năm 1963, Nguyễn Đức Quang bắt đầu sáng tác các tác phẩm mang chủ đề thanh niên và những vấn đề đất nước.

Đến năm 1964 ông chuyển hẳn sang chủ đề tuổi trẻ, quê hương, dân tộc; xây dựng đề tài mới cho tập “Trầm ca,” hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên.

Ông là người tham gia thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam tại Sài Gòn năm 1966.

Sunday, March 27, 2011

Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang

_____________________

Nhạc sĩ Nguyễn đức Quang đã ra đi vào sáng nay 27/3/2011 tại bệnh viện Fountain Valley. Xin mời bạn đọc Tha Hương cùng nghe nhạc phẩm Vỗ cánh chim bay  sau đây như một tưởng niêm, tiễn đưa ông về miền đất mới ...

NHỮNG NGƯỜI BÊN NẦY CON SÔNG BẾN HẢI

_________________

Mach. van. Niên



Khi hai chiếc xe đò ngừng trước Ga Hàng Cỏ ở Hà Nội vào một ngày cuối năm 1981 thì phố đã lên đèn. Ga Hàng Cỏ nhếch nhác và hỗn độn những kẻ nằm ngồi. Họ là những người đang chờ chuyến tàu hỏa xuôi Nam vào giữa khuya. Hai chuyến xe đò đó chính là những chuyến xe chở 50 người tù cải tạo từ Trại Tù Vĩnh Quang thuộc tỉnh Vĩnh Phú vừa được tha từ tuần trước và được đưa về một Trại Tù khác ở Hà Nam Ninh để vổ béo những hình hài gầy guộc sau những năm tháng quần quật mà lại thiếu ăn. Mà tài thiệt ! Sau một tuần nuôi thúc như những đàn gà trong chuồng, chúng tôi trông phởn phơ ra phết ! Tuy vậy cũng khó mà qua được mắt những người hành khách đang chờ tàu, họ vẫn biết chúng tôi là những người tù vừa được thả dù phần lớn đã thay quần áo civil. Những bộ đồ nầy trước đây tù nhân được quyền cất giữ mỗi khi chuyển trại. Riêng tôi, quần áo civil lúc lao động ở ngoài, nhờ ở trong Ban Văn Nghệ trại, tôi có dịp tiếp xúc với người dân và đã đổi hết để lấy thức ăn nên bấy giờ vẫn còn mặc bộ đồ tù, chỉ giữ được chiếc nhẫn cưới bằng vàng y khoảng 2 chỉ. Chiếc nhẫn nầy nhờ trại giữ và chỉ trả lại khi được tha. Nếu không, chắc là tôi cũng gửi nó cho mây ngàn bay !

Thursday, March 24, 2011

NỬA ĐÊM THỨC GIẤC

_______________

Tây Đô Cuồng Sĩ

                       Nửa đêm thức giấc
                       Nghe gà gáy
                       Hai mươi năm chập chờn
                       Ta già rồi
                       Còn đâu mà mơ mộng
                       Đêm nay trời chuyển lạnh     
                       Giọt mưa rơi trên lá
                       Tiếng âm ỉ từ xa
                       Như tiếng thi nhân
                       Như hồn dân tộc
                       Như giọt mồ hôi người nông phu
                       Rơi trên gồi rạ
                       Những trưa hè nắng chói

Nhạc SĩTrần chí Phúc và Chiều Winnipeg

_______________

 Winnipeg trong mùa đông


CHIỀU WINNIPEG
(Để nhớ Nguyễn Thành- người bạn Winnipeg.)

Tôi đến Winnipeg vào một ngày thượng tuần tháng 4 năm 1979. Sau khi được lên máy bay cùng mấy chục thuyền nhân từ trại tị nạn chuyển tiếp ở Kula Lumpur Mã Lai đến Toronto vào nữa đêm, ngủ một đêm khách sạn và trưa hôm sau, những thuyền nhân chia nhau nhiều nhánh đi về những thành phố khác nhau và chỉ một mình tôi được đưa về thành phố Winnipeg.
Một anh sinh viên du học thời trước 1975, trong nhóm người thiện nguyện giúp đỡ người tị nạn, tiễn tôi tận cửa máy bay. Cả hai cùng vẫy tay chào giã biệt, cảm giác bùi ngùi. Một thóang bơ vơ trong lòng vì lần đầu tiên kể khi vượt biển ra xứ lạ, đây là lần đầu mình ngồi trên chiếc phi cơ giữa bao nhiêu hành khác ngọai quốc bay trên bầu trời Canada.
Nhìn qua cửa kính, những đám mây trắng như bông lơ lững, những dải đất phủ đầy tuyết trắng mênh mông bên dưới, lần đầu tiên trong đời nhìn thấy tuyết.
Máy bay đến Winnipeg, một bà già bản xứ cầm cái bảng ghi tên tôi đứng đón và bà lái xe đưa về một khách sạn để tạm trú, bây giờ nhớ lại tên là Balmoral. Chúng tôi không nói với nhau lời nào vì tiếng Anh mình chẳng biết. Trời tháng tư nhưng Winnipeg vẫn còn lạnh, tuyết rơi lất phất. Và cũng là lần đầu trong đời sờ chạm tới tuyết. Cảm giác háo hức đặt chân xứ người ngọai quốc xen lẫn cái buồn ảm đạm của bầu trời u ám lạnh lẽo tuyết bay.

Hoa vàng mấy độ

__________________



Em đến bên đời hoa vàng một đóa
một thoáng hương bay bên trời phố hạ
nào có ai hay ta gặp tình cờ
nhưng là cơn gió em còn cứ mãi bay đi

em đến bên đời hoa vàng rực rỡ
nào dễ chóng phai trong lòng nỗi nhớ
ngày tháng trôi qua cơn đau mịt mù

xin cho bốn mùa
đất trời lặng gió
đường trần em đi
hoa vàng mấy độ
những đường cỏ lá
từng giọt sương thu
yêu em thật thà

em đến nơi này bao điều chưa nói
lặng lẽ chia xa sao lòng quá vội
một cõi bao la ta về ngậm ngùi
em cười đâu đó trong lòng phố xá đông vui

em đến nơi này vui buồn đi nhé
đời sẽ trôi xuôi qua ghềnh qua suối
một vết thương thôi riêng cho một người

Wednesday, March 23, 2011

Khép một vầng trăng PPS

________
Nguyên Nhung


Thật là hết sức tình cờ tôi biết được nhà văn Nguyên Nhung qua trao đổi liên lạc thi văn với Thầy Phạm Huy Viên . Và bất ngờ vô cùng và lý thú hơn nữa khi  được biết cả hai chúng tôi đều là học trò ngày xưa của Thầy . Kẻ ở Cần Thơ , người thì Rạch Gía nhưng đã có một thuở niên thiếu nào ở quê hương xưa dù không chung trường nhưng chúng tôi cùng có chung một người Thầy mà chúng tôi hằng quí mến . Không cần giới thiệu nhiều về người bạn mới của tôi vì tôi thiết nghĩ các bạn đã từng nghe và  đã từng đọc các sáng tác của nhà văn nữ nầy . Xin ân cần giới thiệu đến các bạn - Một PPS của Nguyên Nhung " Khép một vầng trăng " 
 
 Tố Lang

Chiêm bao

Một hôm buồn nát cả chiêm bao
Xóm nhỏ lần theo lối trúc đào
Thoáng bóng người xưa phên cửa động
Chạnh mùi hương cũ cánh hoa chao
Hiên chiều nắng xế trên vai mẹ
Ngõ tối trăng treo trước cổng rào
Tụ tập kênh nhau bầy chó sủa
Giật mình đêm trắng cũng xanh xao..

Cát Vân

Tuesday, March 22, 2011

Mơ - Nhất Chi Hoa

______________

Samurai và hoa Anh Đào

______________

Trần Mộng Tú


Khi nói đến nước Nhật, người ta liên tưởng ngay đến những ngôi chùa cổ kính, với mái ngói xanh lam phủ rêu xanh ngọc, ẩn hiện trong những rừng tùng xanh biếc của mùa xuân, hay những nóc chùa thấp thoáng trong mơ hồ của một rừng tuyết trắng xóa mùa đông. Nước Nhật với cầu kỳ trang trọng của trà đạo; nghệ thuật mang thiền tính trong hoa đạo; lãng mạn với những chiếc gáy gợi tình của các cô gái hé ra ở cái cổ áo kimono hơi trễ về phía sau, trong những ngày quốc lễ hay ngày hội hoa Anh Đào và vẻ quyến rũ của ngọn Phú Sĩ quanh năm tuyết phủ đã lôi cuốn du khách khắp nơi trên thế giới hàng năm đến Nhật. Nhưng bên trên những vẻ đẹp nên thơ và nặng về văn hóa đó là một nước Nhật với tinh thần Võ Sĩ Đạo dũng cảm.

Sau đệ nhị thế chiến, bước ra khỏi một nước Nhật với chế độ quân phiệt là một nước Nhật khác, với những sắc thái đặc biệt ít có nước nào trên thế giới theo kịp. Tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cộng đồng,lòng tự trọng của con cháu Thái Dương Thần Nữ đã làm cho cả thế giới khâm phục. Tất cả tinh thần đó gói ghém trong chữ Samurai. Samurai viết theo chữ Hán là 侍 (đọc là thị, âm Hán Việt) gồm có chữ Nhân (人) đứng trước chữ Tự (寺), mang hình ảnh một người đứng trước cổng chùa (Người canh gác chùa). Trong thời đại Mặc Phủ Đằng Nguyên (thế kỷ 12),Samurai được dùng như chiến binh, thị vệ để bảo vệ Tướng Quân (Shogun). Những Samurai này được huấn luyện, thử thách để hấp thụ đủ ba điều kiện: trung thành, can đảm và danh dự. Samurai còn có nghĩa là “Người phục vụ” (thị = người phục vụ). Về sau, Samurai gần như đồng nghĩa với chữ bushi (武士), tức là “võ sĩ” và những người võ sĩ đó phải tuân thủ những nguyên tắc rất nghiêm ngặt, gọi là Bushidō, tức là “Võ Sĩ Đạo” ( 武士道). Hầu hết những nguyên tắc của Võ Sĩ Đạo đều dựa trên căn bản triết lý của đạo Phật và Thần đạo. Thần đạo thiên về khía cạnh tích cực, hướng dẫn con người thăng hoa vật chất, phát huy tối đa sự sáng tạo, xây dựng một xã hội vượt bực bằng tất cả khả năng của mỗi cá nhân. Trong khi đó Phật giáo giúp cho con người nhìn thấy cái phù du của đời sống, cái hư ảo của mất còn.

Monday, March 21, 2011

Phiếm Luận:TỪ CÀ NÔNG ĐẾN... CÀ CHỚN

______________
Hoàng Trúc Vũ



 " Trèo lên cây bưởi hái hoa
 Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay ..."

Có người nói bài thơ trên của Chúa Trịnh Tráng gửi cho Đào Duy Từ để khuyến dụ ông trở về Bắc sau khi ông đã vào Nam giúp chúa Nguyễn. Giả thuyết nầy theo tại hạ không có tính thuyết phục vì lẽ bên cạnh Chúa Trịnh không thiếu gì những quân sư sao không mượn những điển tích của Ta hoặc của Tàu mà khuyến dụ Đào Duy Từ, một con người văn võ song toàn, mà lại mượn bài thơ tình lẩm cẩm, xem ra có vẻ tầm thường. Theo tại hạ, đây đơn thuần chỉ là một bài thơ của anh chàng nào đó và cái anh chàng nầy chắc là dân ruộng nên mới trèo lên cây bưởi hái hoa bưởi rồi lại bước xuống vườn cà hái hoa nụ tầm xuân hoặc hứng quá hái luôn hoa cà. Thiếu gì hoa đẹp và thơm như hoa hồng hoa sứ... hay sang cả hơn như hoa tulip, mimosa...sao không hái mà lại đi hái hoa bưởi hoa nụ tầm xuân ? ! Hay là anh chàng bắt chước Mao Xếnh Xáng chỉ thích hương đồng cỏ nội vì nó chân chất và không biết vòi vĩnh quần là áo lượt hoặc đòi lên ngôi bà chủ và bép xép cái miệng làm thiên hạ xem thường ông cho chắc ăn ?!

trầm tích