Tuesday, March 3, 2026

Hồi Ký Thanh Hà



Xin giới thiệu cùng 
quý Thầy Cô, quí Thân hữu cùng đọcgiảbốnphương
 của Trang nhà THAHƯƠNG cô Thanh Hà cựu học sinh của trường Trung Học Kiên Thành vừa đến cùng gia đình THA HƯƠNG hôm nay. TH trân trọng chào đón cô và giới thiệu ThanhHà đến cùng anh chị em của Trang nhà. kính chúc sức khỏe và mọi niềm vui.....
TH




 

Hồi Ký

Thanh Hà

Hai Câu Thơ: Lộc Tân Xuân


*Xuân đến xuân đi ngỡ xuân hết

Hoa nở hoa tàn chỉ là xuân

(Thượng toạ Thích Thanh Từ dịch)


A/

Đó là hai câu thơ đính kèm trong phong bì lộc sau giây phút giao thừa mà tôi nhận

được từ các vị ni sư ở Thiền viện Chân Giác, địa phận Garden Grove, Mỹ.

Lòng tôi dâng lên một niềm hân hoan xúc động khó tả khi đọc câu thơ đầy ý nghĩa do

Thượng toạ Thích Thanh Từ dịch từ hai câu thơ của Thiền sư Chân Không– người

đã sống thời nhà Lý cách nay cả ngàn năm trước–:

Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận

Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân

(Thiền sư Chân Không)


Lâu rồi tôi có ý định đón Tết Nguyên Đán một lần ở Mỹ–chính xác là ngay thủ phủ

người Việt hải ngoại vùng Santa Ana để xem không khí Tết bên ấy có khơi gợi trong

tôi cảm xúc gì so với đón Tết nơi cố quốc. Lần lữa mãi đến nay mới thực hiện được,

bởi gần như năm nào tôi cũng xách valise bay về quê ăn tết cùng đại gia đình, nơi

bao người thân chờ đón để được hưởng sự ấm áp trong không khí thân yêu, tìm lại

niềm vui thời thơ trẻ.

Cuối tháng 1 dương lịch, tôi theo gia đình người em con chú “tống cựu nghinh tân”ở





thiền viện Chân Giác. Ngọn gió Santa Ana về đêm thổi khá lạnh. Bước xuống xe ai

nấy phải đi nhanh vào trong để tìm hơi ấm. 11:30’đêm, khi bước vào chánh điện tôi

hơi ngạc nhiên là chỉ có 5 hay 6 tín đồ hiện diện, kể cả trẻ con. Lát sau thì có thêm 1

gia đình gồm 3 người nữa.

Tổng cộng có 4 gia đình ngót nghét chục người, thế mà mọi người khi chào nhau lại

nói: Ô năm nay “đông” nhỉ.

Theo lời em dâu kể thì giao thừa năm rồi chỉ có 2 gia đình: 1 của em và 1 của người

bạn tham dự lễ tổng cộng bốn người lớn và ba trẻ em.

Các sư cô thứ tự theo hàng một khoan thai lần lượt đi vào chánh điện.

Đây là thiền viện dành cho nữ tu. Chúng phật tử quỳ phía sau các Ni sư.

Bắt đầu tụng thời kinh lễ nửa đêm.

Chúng tôi được phát quyển kinh nho nhỏ để cùng tụng theo lời chỉ dẫn.

Tiếng chuông ngân nhẹ khởi đầu.

Có những đoạn kinh do một Ni sư tụng, có những đoạn các Ni cùng tụng niệm, và có

đoạn các tín đồ hoà theo, trong bầu không khí trang nghiêm thành kính. Thỉnh

thoảng chen vào tiếng mõ thì tất cả đều cúi lạy ba lạy, và tiếp tục…

Sau bài Hồi Hướng là một hồi chuông kết thúc buổi lễ.

Ngày còn ở Việt Nam tôi hay tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, từ khi sang đây thì lơi

dần rồi ngưng hẳn (!)–mượn cớ không có thì giờ, chẳng qua vì lười là chính. Tôi


chưa đủ phẩm hạnh và sự kiên trì nhẫn nhục tuân theo giới pháp nên chưa bước

vào đường tu được–. Nhưng vẫn nhớ ít câu kinh như:

–Tam Tự Quy Y hay Quy Y Tam Bảo

–Kinh Bát Nhã hay Bát Nhã Ba La Mật Đa Tam Kinh

–Diệu Pháp Liên Hoa (hay Kinh Pháp Hoa)

–Lăng Nghiêm…

Giờ tôi nghe các ni sư tụng qua bản dịch tiếng Việt thuần. Tôi đoán chắc để cho các

phật tử trẻ dể hiểu hơn– bởi thế hệ trẻ nghe và nói tiếng Việt hằng ngày đã khó khăn

rồi, nếu nghe giảng kinh Phật bằng tiếng Hán hay Nôm nữa thì chẳng khác nào “vịt

nghe sấm”. Chính người lớn-trong đó có tôi- còn mù mờ phải trao dồi học hỏi thêm

mới rõ ý nghĩa nữa huống chi.

B/

Kể việc đọc kinh kệ khiến lòng bùi ngùi thương nhớ đến ông Ngoại tôi.

Câu chuyện này xảy ra lúc Ngoại hơn 90 tuổi. Trước đó Ngoại đã tu tại gia từ rất lâu,

lâu lắm–hơn 30 năm là ít–.Ngoại vẫn sinh hoạt làm việc bình thường nhưng mỗi

ngày siêng năng đọc hai thời kinh sáng, chiều. Ăn chay mỗi tháng 10 ngày, và

nguyên 2 tháng giêng và tháng bảy. (Sau nầy Má tôi nốt gót Ngoại ăn chay trường tu

ở chùa và tại gia cũng hơn 35 năm cho đến ngày tạ thế).

Thời gian tôi còn ở quê nhà, thỉnh thoảng tôi cùng đọc kinh với Ngoại. Ngoại có đôi

mắt tinh tường không mang kính lão, chưa bao giờ bịnh nặng, trừ đôi lúc cảm mạo

thông thường. Có một hôm Ngoại bịnh, sức khoẻ yếu kéo theo tâm trí không được

sáng suốt như mọi ngày nhưng vẫn không chịu bỏ thời kinh. Ngồi chắp tay cung kính

trước bàn thờ Phật, chăm chú nhìn vào quyển kinh để mở trước mặt, đọc một cách

trôi chảy không vấp váp câu nào, thỉnh thoảng đến đoạn “Nam Mô A Di Đà Phật” thì

đưa tay gõ mõ, cúi đầu lạy xong đọc tiếp.

Chốc sau tôi mới đến bắc ghế ngồi cạnh để cùng đọc kinh với Ngoại. Vì không thuộc

bài quá dài nên phải ghé mắt vào quyển kinh đọc ké.

Tôi dò tìm đoạn Ngoại đang đọc, hồi lâu mà chưa thấy trong khi Ngoại vẫn thao thao.

Đành chờ Ngoại lật sang trang khác để bắt nhịp theo, thì mới nhận ra…Ủa ?Sao lời

Ngoại tụng chính xác không sai một chữ của bài kinh, nhưng không hề ăn khớp với

trang kinh vậy? (Tôi biết không sai là bởi đã nghe và từng tụng hàng trăm lần).

Nếu tôi tụng theo trang kinh thì là một thời kinh khác với thời kinh Ngoại tụng nên

đành ngồi yên, xem Ngoại có quên rồi ngừng tụng?

Nhưng không, Ngoại vẫn tụng rành mạch không ngừng, đã vậy cứ độ chừng hết một

trang thì Ngoại lật sang trang khác và tiếp tục…cho đến hết thời kinh.

Mà các trang kinh thì hoàn toàn không dính dáng gì với lời kinh Ngoại tụng cả*

*Ngoại có nhiều quyển kinh, tuỳ theo dịp nào hay ngày nào thì tụng loại kinh nào. Tôi

nhớ man mán gồm các quyển kinh đơn giản như: Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Lăng

Nghiêm, A Di Đà, Lương Hoàng Sám…

Trời! Tôi thật sửng sốt với khám phá kỳ diệu về ông Ngoại kính yêu của mình. Cười

thầm thích thú lẫn khâm phục trí nhớ của Ngoại–một lão nông chân chất ngoài 90

tuổi mà thuộc lòng kinh kệ tụng thành thạo. Thì ra Ngoại tuy chăm chú nhìn vào

quyển kinh và theo quán tính tụng hết một trang thì lật sang trang khác. Có lẽ hôm

đó Ngoại lấy nhầm quyển kinh mà không để ý.




Ngoại đọc kinh hằng ngày đều đặn 30 năm nên lời kinh đã thấm nhuần ăn sâu vào

tâm trí, thuộc nằm lòng nên cứ vậy mà tụng. Mắt “Nhìn” vào trang kinh nhưng“Thấy”

chữ bằng tâm trí chứ không bằng đôi mắt trần gian. Thương quá Ngoại ơi!!!

C/

Trong tiếng chuông ngân nhẹ để chấm dứt thời kinh, cũng là lúc bắt đầu năm mới.

Mọi người bái lạy trước tượng Phật rồi đứng lên.

Đầu tiên một Ni sư trẻ đại diện chúc Tết trao lộc cho các Ni Sư lớn.

Có chín vị (9) tất cả. Gương mặt các Ni đều toát lên nét hiền lành thanh thoát, tươi

vui an lạc. Tôi cảm nhận năng lượng từ bi ấy lan truyền sang cho mình rất mạnh.

Trước khi đi, tôi hỏi cô em dâu là có bao nhiêu vị sư, em nói không biết chính xác

nhưng em sửa soạn 10 phong bao.

Tôi vì không biết trước chương trình nên chẳng có chuẩn bị, bèn hỏi em dâu còn

phong bì dư cho tôi xin, em lục gom góp chỗ này chỗ nọ được 9 cái lớn nhỏ không

đều. Thôi đành, có là may rồi. Trên đường tôi cứ hồi hộp, sợ thiếu thì quá kỳ cục.

Nhưng thật phước lành, vừa đủ 9 Ni Sư. Thế là an tâm.

Tất cả chúng phật tử đều được Ni sư trẻ phát lộc. Sau đó chúng tôi cũng tỏ lòng

thành trao phong thư lần lượt cho các Ni.

Các Ni đều chúc lành cho từng người chúng tôi.

Tôi nhớ khi đến trước mặt một vị Ni lớn tuổi đảnh lễ, sư nhìn tôi rất trìu mến và dặn

tôi khi nào có thời gian hãy đến thăm thiền viện. Tôi nói “con sống ở tận châu Âu chỉ

qua đây chơi thời gian ngắn nên rất tiếc” các Ni nhìn tôi có vẻ lưu luyến.

Về nhà, tôi mở phong bì ra xem. Rất ngạc nhiên vui thích khám phá ngoài tờ lộc lấy

hên, còn nhận được hai câu thơ Xuân Thiền đã viết ở trên.

Bản dịch của Đại Lão Hoà Thượng Thích Thanh Từ: Hoa nở hoa tàn chỉ là xuân.

Có ít nhất thêm ba (3) người dịch, thay vì “chỉ là xuân” thì dịch “vẫn là xuân”:


–Xuân qua xuân lại ngờ xuân tận

Hoa nở hoa tàn vẫn là xuân

(Giáo sư Nguyễn Đăng Thục)

–Xuân qua lại, ngỡ xuân tận

Hoa dù rụng nở, vẫn hoàn tiết xuân


(Phạm Tú Châu)

–Xuân đến, xuân đi, tưởng hết xuân

Hoa tàn, hoa nở, vẫn là xuân

(Kỳ Thanh)


Từ hai câu thơ trên khiến tôi liên tưởng đến một bài thơ khác của Thiền sư Mãn

Giác:


Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thượng lai


Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

(Thiền sư Mãn Giác)


Dịch:


Xuân trỗi trăm hoa rụng

Xuân tới trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua–sân trước–một cành mai

(Ngô Tất Tố dịch)


Tôi đã đọc bài thơ này từ rất nhiều năm trước, và đặc biệt yêu thích hai câu cuối

trong bài thơ của Thiền sư Mãn Giác–cả Hán văn lẫn dịch ra Việt văn:


–Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

– Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua, sân trước, một cành mai


Câu thơ ý nghĩa sao mà sâu sắc!!!

C/

Lần giở trang sử xưa, thời nhà Lý (1009–1225) cách nay ngót nghét cả ngàn năm có

ba vị thiền sư lỗi lạc là Chân Không, Mãn Giác, Giác Hải.

Cả ba vị thiền sư đều có tư tưởng tương tự nhau: Thiền sư Chân Không mượn hình

ảnh hoa mùa xuân nở rồi hoa tàn, nhưng ta đừng cho là hoa tàn thì xuân đã hết. Rồi

sự tuần hoàn sẽ lập lại: Xuân đến xuân đi, rồi lại đến, rồi lại đi cho đến vô cùng tận.

Còn thiền sư Mãn Giác cũng nói đừng nên bi quan trước sự tuần hoàn của vũ trụ.

Đừng nghĩ lúc xuân tàn tất cả hoa đều rụng, bởi đêm qua trước sân đã có một cành

mai vàng lại xuất hiện. Hoa tượng trưng cho sự bất sinh bất diệt của vũ trụ, con

người nên gạt bỏ tư tưởng yếm thế để hội nhập vào cái trường tồn.

Thiền sư Giác Hải có bài kệ sau:


Xuân lai hoa điệp thiện tri thì

Hoa điệp ứng tu cộng ứng kỳ

Hoa điệp bản lai giai thị huyễn

Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì

(Thiền sư Giác Hải)

Dịch:

Xuân đến bướm hoa khéo biết thì

Cần nhau hoa bướm biết nhau khi

Bướm hoa vốn thảy đều hư huyễn

Chớ đem hoa bướm giữ lòng chi


(Hoà thượng Thích Trí Siêu,

tức giáo sư Lê Mạnh Thát)


Cả ba thiền sư đều mượn hình ảnh tả mùa xuân sẽ có hoa nở bướm lượn theo đúng

kỳ hạn, mà hoa bướm cũng chỉ là huyễn ảo, không thực nên con người đừng bận

tâm. Giống như sự Sống và Chết. Còn nghiệp duyên thì còn sống, hết nghiệp duyên

thì sẽ chết, đừng nên quá lo lắng*

*Bởi có lo lắng sợ hãi thì cũng đâu thoát khỏi định luật Tử Sinh. Dù đạo Phật nói có

tái sinh nhiều kiếp, nhưng đâu biết kiếp sau mình còn được như kiếp này không. Chi

bằng ta sống kiếp nầy thêm một ngày nào là vui thêm ngày ấy vậy. (Lời bàn của TH)

Tôi còn viếng thêm vài ngôi chùa rất bề thế uy nghi, mà Chân Giác là ngôi thiền viện

lưu lại trong lòng tôi cảm giác an nhiên thanh tịnh nhất. Đúng nghĩa là một nơi để cho

chúng sinh tìm về, lắng lòng trong không khí vừa tôn nghiêm vừa từ bi đại lượng của

Phật Pháp Tăng.

Thanh Hà



No comments: