Monday, August 19, 2024

CHÂN DUNG NGÀY XƯA HOÀNG THỊ CỦA THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ Hoàng Trọng Thắng

 


  · 

CHÂN DUNG NGÀY XƯA HOÀNG THỊ CỦA THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ

Hoàng Trọng Thắng

Bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị được nhiều người đánh giá là một trong những bài thơ tình hay nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại. Theo tôi, đánh giá như vậy có vẻ hơi quá. Thực tế, nếu không có Ngày Xưa Hoàng Thị của Nhạc sĩ Phạm Duy, chắc rằng chẳng mấy ai biết Ngày Xưa Hoàng Thị của Thi sĩ Phạm Thiên Thư. Hay nói một cách khác, Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư, từ một cô bé lọ lem, đã được phù thủy Phạm Duy biến thành công chúa.

Nhiều người còn cho rằng, Phạm Thiên Thư đã đem thiền tính vào Ngày Xưa Hoàng Thị. Có thể đánh giá trên được dựa vào màu áo thiền sư của Phạm Thiên Thư lúc sáng tác bài thơ này. Nếu có, sắc thiền chỉ thoáng nhẹ trong ba câu:

… Như đi trên cát

Bước nhẹ mà sâu

Mà cũng nhoà mau…

Cho dù bài thơ mang tính thiền trên một góc độ cảm quan nào đó, nhưng chắc chắn không thể có trong 16 câu thơ đầu. Điều này sẽ được thấy rõ hơn nếu phân tích Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Duy.

Một Người - Thơ và Nhạc Chương Hà - Tiếng Hát Đông Nguyễn

 Đời người qua bao cuộc tình éo le, đắng cay, dang dở mới thấy hết lòng yêu thương một người thật là trân quý

Mời thân hữu xem yt nghe sáng tác mới
Một Người
thơ nhạc Chương Hà
hòa âm , trình bày Đông Nguyễn

Sunday, August 18, 2024

VÀI SUY NGHĨ VỀ TU HỌC NHÂN MÙA VU LAN



ĐỖ DUY NGỌC

Mùa Vu Lan, mùa chay, mùa báo hiếu, mùa xá tội vong nhân. Trong Phật giáo Nguyên thuỷ không có lễ này. Vu Lan là sản phẩm của Phật giáo Trung Hoa, là phái Bắc tông (Đại Thừa). Suy cho cùng về mặt nguồn gốc thì xuất xứ của Lễ Vu Lan gần với đạo Lão hơn là Đạo Phật.

Biết Nói Làm sao


 

BÊN MỘ MẸ - Tác giả Phạm phúc Toại - Tịnh Đế Liên Hoa ca

 

[Tay Ngoại trong tay con]

 CHÂU HUY HÒA ÁI





Nếu sinh đúng thời có lẽ Ngoại đã là một kỳ nữ tài ba. Tuổi thơ của con, có một phần lớn lên trong những tiếng kệ tụng, những tiếng đọc thơ ngân nga, những tích điển cổ xưa của Ngoại. Chưa từng cần cầm một cuốn kinh sách. Tất cả hằn sâu trong trí nhớ của Ngoại.
Ngoại không là bất kỳ một hình ảnh nào trong những bài văn mẫu mô tả về một người bà hiền hậu, tóc trắng phau phau, thương cháu thương con một cách hiền từ. Ngoại sắc sảo, cương liệt, có cái nhìn sắc bén và những lời nói thâm sâu. Chỉ trong một ánh nhìn, đã có thể thấy rõ. Chỉ trong một câu từ nói ra, đã ẩn tàng những hàm ý sâu xa. Ngoại có một trí nhớ khủng khiếp hơn bất kỳ người nào con đã gặp. Từ Tam Quốc, Đông Chu, đến bao nhiêu kinh điển, tiểu thuyết, ca dao, tục ngữ, bao nhiêu vết hằn của lịch sử, tất cả đều nằm trong trí nhớ khủng khiếp ấy. Cho đến mãi về sau này, dù bây giờ tuổi tác có lúc khiến Ngoại nhớ quên nhưng sự minh mẫn ấy vẫn còn nằm trong một đôi ánh mắt như nhìn thấu ruột gan người khác.
Tuổi thơ của con lớn lên, có những món ăn của Ngoại làm mà chỉ có gia đình mình mới được ăn những món ăn đó. Cũng có những nỗi buồn thế hệ phảng phất qua năm tháng. Nhưng có cả những sự kế thừa trong xương máu. Từ Ngoại cho Má. Từ Má cho con.
Ngày Vu Lan, ông trời vẫn thương cho Ngoại vẫn khoẻ mạnh để Má chưa cài hoa trắng. Cũng như Má vẫn khoẻ mạnh để con vẫn nhận được cánh hoa hồng.
Tất cả những hạt giống con được kế thừa, vốn cũng là ân đức trời trao. Con biết ơn những ân huệ này và biết ơn ông trời vẫn cho Ngoại và Má được khoẻ mạnh. Đó là một thứ phước đức lớn lao không gì so sánh được.
Ngày Vu Lan, con viết về Ngoại. Để giữ lại cho những năm tháng về sau.

Bông Hồng Cài Áo | Phạm Thế Mỹ | Hoạ Mi

 

Má Tôi Ơi


 

Friday, August 16, 2024

TẠ TÌNH

 


Nhạc: Minh Huy Lời thơ: Từ Hoa Tiếng hát: Chi Huệ Em đã nợ anh một khối tình Đã từng trả hết thuở đầu xanh Bây giờ tóc trắng dòng dư lệ Nguyệt quế ngày xưa chốn cổ thành. Em cũng nợ anh một tấm lòng Từ dòng vô định chảy thành sông Từ trong thiên cổ rơi thành lệ Giọt lệ cho người, khi nhớ mong. Em vẫn nợ anh một tiếng cười Nợ rừng, nợ suối, nợ bờ môi. Trong tim em giữ dòng kinh cũ Nhắn với trời cao gởi đến người. Nếu chẳng bao giờ ta gặp lại nhau Câu thơ em trao, xin để lại ngàn sau Từ trăm năm trước, duyên và nợ Đã trả hết rồi, sao tình hoài nhớ nhau? Hiên văn ai nhớ dấu hài Mở trang cổ tích trăng cài song thưa Hương trời một thoáng duyên xưa Hoá thành một áng mây đưa cuối trời.

Chờ Mong


 

Thursday, August 15, 2024

SÀI GÒN KHẮC KHOẢI TIẾNG RAO ĐÊM

 TỪ KẾ TƯỜNG



SÀI GÒN KHẮC KHOẢI TIẾNG RAO ĐÊM
Sài Gòn lắm ngõ ngách, có những con ngõ, con hẻm được đặt tên và phần lớn là không tên. Nhưng dù ngõ ngách, hẻm hóc có tên hoặc không tên đều tượng trưng cho những khu xóm lao động nghèo nằm sâu cạnh những vùng thị tứ tấp nập của thành phố và ở đó ngày nắng cháy bỏng da hay những đêm mưa rét cóng của một thời “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ” tiếng rao của những người bán hàng gánh, thúng bưng vẫn là mối hoài niệm khó quên đối với những ai là dân cố cựu của đất Sài Gòn.
Ngày ấy, khoảng năm 1963-1964 nhà tôi ở hẻm Nam Tiến đường Bến Vân Đồn Q4 (Hồi đó còn gọi là Khánh Hội) bị hỏa hoạn, trận hỏa hoạn kinh hồn từ 16 giờ đến 3 giờ sáng hôm sau mới được dập tắt đã thiêu rụi cả một khu vực rộng lớn gồm toàn dân lao động nghèo. Gia đình tôi cũng như những người dân khác trong khu hỏa hoạn phải tìm chỗ trọ mới. Tôi về ở trọ nhà một người bác, bà con xa ở hẻm Hãng Phân đường Bến Vân Đồn.
Đây là con hẻm nhỏ nằm gần hãng thuốc lá Bastos dẫn sâu vào chợ Hãng Phân ăn luồn qua một khu vực khác cũng thuộc Q4. Tôi ở trên căn gác gỗ trần lợp tôn ẩm thấp và nóng hầm hập như lò bánh mì. Năm ấy tôi chuẩn bị thi Trung học Đệ nhất cấp, một kỳ thi rất quan trọng thời bấy giờ nhưng điều kiện học tập thiếu thốn do ở trọ, nhất là thiếu ánh sáng học bài. Mỗi tối tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ và học bài nhờ ngọn đèn đường neon ánh sáng xanh nhợt nhạt từ trên cây cột điện trước cửa nhà hắt xuống.
Nhà bác tôi rất đông người, căn gác nhỏ kẻ lớn, người nhỏ ngủ sấp lớp, trên gác lại có mấy khạp mắm lóc, mùi mắm trong đêm khuya bốc lên ngợp thở nên tôi ngủ ngoài mái hiên gác trọ được hít thở không khí trong lành, không có mùi mắm và được tự do ngồi ngắm sinh hoạt trong con hẻm sâu hun hút dần thưa vắng người lúc nửa đêm khiến tôi thích thú như được ở chốn… thiên đàng. Nhưng ở ngoài mái hiên có khó khăn trong việc đi lại, cửa trước dưới nhà thì đóng, muốn xuống đường dạo chơi tôi phải… đu cột đèn xuống, khi lên cũng phải leo cột đèn để lên. Tuy nhiên như thế cũng là sự tự do, không phiền lụy đến người trong nhà.
Những buổi tối nằm trong mùng, hay ngồi dựa lan can gác học bài dưới ánh đèn đường tôi thường chú ý đến những người bán hàng rong khi họ cất tiếng rao từ đầu hẻm. Chị bán chè bà ba có giọng rao lanh lãnh, trong vắt :” ai ăn chè bột khoai nước dừa đường cát h…ô…n”, chú “chệc” bán bánh tiêu, bánh bò đạp chiếc xe có cái lồng kiếng đựng bánh phía trước giọng lơ lớ: “ Ai bánh tiêu bánh bò ché q…u…ả…y lớ”. Không hiểu sao cuối câu rao lại có chữ lớ lên cao giọng khá ngô nghĩnh.
Rồi ông đấm bóp giác hơi đạp xe rè rè vào hẻm với tiếng rao rất đặc trưng không thành lời mà vang lên một âm điệu “xập xòe” của xâu nút khoén đong đưa, lắc lư. Nhưng ấn tượng với tôi hơn cả là người bán “chí mà phủ” tức chè mè đen, một loại chè đặc trưng của người “khách trú” theo tên gọi thời bấy giờ. Đó là người đàn bà Tàu tấp người, lưng hơi còng với thời gian, mặc bộ đồ sẫm màu đen, cũ, đầu đội nón rộng vành có cái chóp nhọn, chân mang dép cao su lẹp xẹp, gánh trên vai thùng chè tròn có nắp đậy phía dưới là cái lò than đỏ rực phía trước.
Gánh phía sau là thùng nước rửa chén, đậy bằng một cái khai nhôm, trên có mấy cái chén và mấy cái muỗng. Người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” này mỗi lần gánh chè vào hẻm đều cất giọng rao rất đặc trưng: “ chí mà p…h…ụ” âm thanh nghe đục, ngắn, cất lên đột ngột mà chấm dứt cũng rất đột ngột khiến người nghe thấy thiếu thiếu và tức tức đâm ra tò mò và muốn…ăn chè mè đen của bà một lần cho biết.
Và tôi đã ăn thử một lần cho biết rồi…ghiền luôn. Phải nói “chí mà phủ” của người đàn bà Tàu này có bí mật “gia truyền”, nó có hương vị đặc biệt, béo, bùi, thơm không ngọt gắt, ngon…không tả được và không giống như chè mè đen người khác bán mà tôi cũng thường ăn, kể cả ông già người Tàu bán bên hông phía nhà chú Hỏa đường Nguyễn Thái Bình Q1 (bây giờ). Tôi đã trở thành mối ruột cùa người đàn bà Tàu bán “chí mà phủ” từ những đêm trèo cột đèn xuống khi bà cố ý ngồi lại dưới chân cột đèn, đặt gánh chè xuống và rao: “chí mà p…h…ụ”. Ngày nắng gánh chè của bà vơi gần đáy, nhưng ngày mưa thường ế nên bà mời tôi ăn ủng hộ cũng với giọng khàn khàn, đục đục, lơ lớ:” hầy, mưa gió ế quá lị ăn ủng hộ ngộ một hai chén li”. Ăn thì được, nhưng học trò nghèo ăn chịu hơn là trả tiền mặt. Và mãi tới tận bây giờ tôi nhớ là vẫn còn…nợ bà người Tàu bán “chí mà phủ” mấy chén chè chưa trả.
Những tiếng rao dài ngõ hẻm, âm vang tiếng rao hàng gánh, thúng bưng rất đặc trưng của những người bán quà rong Sài Gòn thủa ấy vẫn còn đi theo mãi với tôi cho tới tận bây giờ với nỗi nhớ hẻm, nhớ thời “Sài Gòn đèn ngọn xanh ngọn đỏ” khôn nguôi.

Ngăn Cách


 

Tiếng Thơ Hoa Vàng - Lá Diêu Bông với LS. Đỗ Thái Nhiên

 

Tuesday, August 13, 2024

Thơ Xướng Họa : Mưa & Gió


 

XƯA BẠN HAY NGỒI CAFE Ở ĐÂU? Cre: Nguyễn Đông Thức

 



XƯA BẠN HAY NGỒI CAFE Ở ĐÂU?

Cre: Nguyễn Đông Thức
Xưa, với mình có nghĩa là trước 1975, ở Sài Gòn.
Thời đó làm gì có những chuỗi cà phê như Trung Nguyên, Phúc Long, Highlands, Katinat… Nhưng Sài Gòn thì thời nào quán cafe cũng đầy, từ mặt tiền sang trọng cho tới hang cùng ngõ hẻm, đâu đâu cũng có.
Xưa, vừa đi học vừa đi dạy thêm, hai năm cuối học trường QGHC hưởng lương như công chức, túi rủng rỉnh tiền, tôi mới bắt đầu biết những Brodard, Givral, La Pagode… đều trên đường Tự Do, nhưng cũng chỉ thỉnh thoảng, khi muốn giựt le với một cô bạn gái. (Còn nhớ khi đó ở Brodard và Pagode đều có máy Jukebox, bỏ một jeuton vào nghe được một bài, toàn nhạc hay. Thậm chí tôi còn nhớ ở Pagode, bấm nút E6 là bài “J’Entends Siffler Le Train” của Richard Anthony nữa!). Cũng Quận 1, ngay ngã 4 Lê Lợi - Pasteur, có cà phê Mai Hương mấy ông sĩ quan về phép hay ngồi rửa mắt. Thứ Bảy, Chủ nhựt là full bàn.
Nhưng buổi sáng tôi vẫn thích cà phê ở kiosque Hương Lan trước bưu điện, ăn ổ bánh mì cóc gà xé hoặc cái croissant với tách cà phê sữa nóng. Thỉnh thoảng, nhớ thời trung học thì lại về kiosque Hẹn trước Sở Thú, ngồi ngắm các cô học sinh Trưng Vương dễ thương gì đâu ríu rít đến trường. Làm biếng thì nguyên một vùng Phú Nhuận và Tân Định gần nhà là cơ man quán cà phê nhỏ, dễ thương. Cafe vợt ở Phú Nhuận, Tân Định có luôn, mà như hồi xưa cafe vợt ở đâu cũng có chớ đâu là hàng hiếm như bây giờ.
Không biết có bạn nào biết quán Thu Hương trên đường Hai Bà Trưng gần ngã tư Hiền Vương, giới sinh viên học sinh hay ngồi? Có thời gian ngày nào tôi cũng ngồi đây.
Công thức làm quán cà phê như ở Thu Hương khá đơn giản: phải có một cô cashier (ngồi quầy) có vẻ đẹp hơi liêu trai, tóc dài, mình dây, bận áo dài, trên bàn để một cây đèn vàng có cái chụp màu trắng… Cô chỉ cần ngồi thôi, đầu hơi cúi xuống, là đủ cho các anh khách ngắm và mơ bao chuyện, từ đàng hoàng cho tới bậy bạ. Lẽ dĩ nhiên phải có một chiếc Akai và vài cuốn băng nhạc thời thượng. Cà phê Hân trên đường Đinh Tiên Hoàng cũng chơi công thức này. Cũng là một địa chỉ mà hầu như ai hay đi cà phê ở Sài Gòn đều biết. Ngồi ngắm em qua làn khói thuốc, nghe Duy Quang hát “Người từ trăm năm, về ngang trường Luật. Người từ trăm năm, về ngang trường Luật. Ta hỏng Tú Tài, ta đợi ngày đi. Đau lòng ta muốn khóc…” mà muốn khóc luôn, sợ rớt là đi lính nên phải chạy về ôm cua học.
Trên đường Nguyễn Du khúc gần ngã ba Chu Mạnh Trinh cũng có một loạt quán cà phê và đủ loại cocktail mà vào mùa thi thường đông nghẹt. Ngồi tới 9h rồi về gạo bài tới 1-2h sáng là chuyện bình thường của giới sĩ tử hồi xưa. Trong và ngoài các trường đại học đều có quán cà phê, nổi tiếng nhứt là cà phê Văn khoa.
Con gái hồi xưa không đi cà phê đông đen như bây giờ nha! Kiếm được một cô đi cà phê mà phì phèo điếu Dunhill xanh như tôi đã có, phải nói là của hiếm.
Nhớ lại, chất lượng cà phê hồi xưa khác xa bây giờ. Cà phê có bắp rang, có cau khô, có bơ, thậm chí có kýninh… là chuyện bình thường. Thậm chí chẳng mấy ai than phiền. Có khi uống được ly cà phê nguyên chất lại chê dở cũng không chừng.
Xưa bạn hay ngồi cà phê ở đâu?
(Chú thích ảnh: Cafe Brodard ngay ngã ba Tự Do - Nguyễn Thiệp, sang trọng một thời. Sau 1975 suốt chục năm, là nơi bán phở và xôi bình dân cho cán bộ công nhân viên ăn. Những tấm ốp trần và tường bong tróc nham nhở, thấy muốn khóc!)
(Bài sưu tầm)
All reactions:
159


Họa Sĩ Nguyễn Văn Nhớ - Một Chút Tình Xa Thiên Cổ Lụy

 

Mưa





Sunday, August 11, 2024

CÓ MỘT DÒNG SÔNG

 


                  

                  

                         Ảnh Lê Quang Xuân


CÓ MỘT DÒNG SÔNG



 Viết theo tâm sự cố Th/Tá CSQGVNCH 

Đặng Giang Sơn”. Anh bạn đồng môn, sau 

hơn 30 năm gặp lại nơi xứ người! DTDB


Mơ ước ngày về thăm lại dòng sông

Sông Bé, sông Hương, sông Đuống, sông Hồng...

Hồ, ao, kinh, rạch,...  chảy vào biển cả

Ngọt nước phù sa chín nhánh Cửu Long


Sương khói mịt mù chưa rạng bang mai

Trăng tà chênh chếch in bóng sông dài

Nhẹ đẩy mái chèo ghe xuồng lướt sóng

Cồn bãi xa dần khi bóng đêm phai


Bình minh ửng hồng rực rở phương đông

Trên nhánh bần gie cò vạc riả lông

Sương mù dần tan, nước xanh biêng biếc

Chuồn chuồn bay lượn sóng vỗ bập bồng 


Giữa tháng trăng tròn nước nhiều phù sa

Nước kém câu tôm, kéo lưới, giở chà

Cá tôm bắt được còn tươi soi sói

Diều quạ tìm mồi đão tới lượn qua


Ven bờ mái lá san sát khang trang

Huỳnh anh trước ngõ nở nụ hoa vàng

Thời buỗi thanh bình, trưa hè tĩnh mịch

Gà gáy cuối thôn, chó sủa đầu làng


Thả thuyền trên sóng, ông lão buông câu

Lục bình hoa tím trôi giạt về đâu?

Cô lái đò ngang giọng hò lảnh lót 

Nhớ chàng mục tử tận bến giang đầu


Thôn dân thuở đó sống nếp an nhàn

Chẳng màng danh lợi, chẳng mộng giàu sang

Chim trời, cá nước bao la vùng vẫy

Vui cảnh thiên nhiên, yêu mến xóm làng


Nay muốn trở về sống lại cảnh xưa

Quê hương tan nát, khóc mấy cho vừa

Nhớ cảnh thái hòa bên bờ sông Cửu

Mái lá, xuồng con, cạnh một rẫy dưa



DƯ THỊ DIỄM BUỒN


Email: dtdbuon@hotmail.com