Tuesday, December 12, 2017

Nhớ Cả Khung Trời Mây Trắng Bay (phần II)


Trần Ngọc Nguyên Vũ

Chuyển tới TH bởi Đào Minh Quang







PleiKu! Vùng đất trích:

… Lịch-sử của cuộc chiến là một bức tranh khổng lồ, mà mỗi người trong chúng ta chỉ có thể nhìn nó từ một góc cạnh rất nhỏ trong cuộc đời của mình. Có những góc cạnh mà người đứng nhìn tưởng như mình đang lạc vào một “chiều không-gian” khác biệt nào đó, để bất chợt bắt gặp một bông lan rừng nhô ra từ khe đá rong rêu, chênh vênh bên ghềnh thác… Cũng từ cái góc cạnh đặc biệt này, niềm hoài-niệm đã đưa tôi trở lại với PleiKu vào một buổi chiều âm u sương khói…

… Từng tảng mây đen nặng nề từ đỉnh Trường-Sơn chậm chạp kéo về dăng kín cả bầu trời phố núi, như báo hiệu cho một cơn dông lớn sắp đến. Tr/Tá Nguyễn Văn Bá KĐT/KĐ72CT, cùng Thiếu Tá Lê Bá-Định Phi-Đoàn Trưởng, và chúng tôi, những phi-công của phi-đoàn “Thái-Dương 530” tân lập, đứng quây quần bên những chiếc lò sưởi dã chiến được làm bằng những chiếc thùng “phuy” săng, ngoài hangar của LĐ60BT&TL cạnh phi-đạo, cùng Thiếu Tướng Kỳ trò chuyện tâm-tình. Là một đơn vị nhỏ thuộc cấp “phi-đoàn”, mà được Tướng Kỳ ghé thăm, tháp tùng ông là những nhân vật gạo cội của quân-chủng như Tướng Minh TLKQ, Đại-Tá Tần TMP/Hành-Quân, Đại-Tá Tiên TL/KĐ33/CT, ở vào thời điểm cuối năm 1970… thì không phải chỉ là vinh-dự cho đơn vị, mà còn là một niềm hãnh-diện riêng cho nguời lính chiến nơi vùng trời biên trấn. Đang nghe vị cựu Tư-Lệnh/KQ kể chuyện, chúng tôi bỗng thấy xe cứu thương và xe cứu hỏa hụ còi inh ỏi chạy ra ngoài phi-đạo. Từ chiếc vòi rồng của xe cứu hỏa phóng ra một lớp “bọt foam” trắng xóa, phủ kín một quãng sân bay. Nhìn về hướng Đông, chúng tôi thấy hai chiếc phi-cơ phản lực đang trên đường cận tiến phi-đạo 27. Bằng những con mắt nhà nghề, chúng tôi nhận ra ngay đó là hai chiếc F100 đang dìu nhau hạ cánh khẩn cấp. Chiếc số một thả bánh đáp, chiếc số hai bám sát bên cánh trái không thấy ra “gear”, chắc là bị bể ống thủy-điều. Cả hai chiếc thẳng tiến tới phi-đạo và ở một cao độ vừa đủ để làm crash.

Bỗng chiếc số một bốc mình lên, trong lúc chiếc số hai “crashed” thật chính xác ngay trên lớp “bọt foam”. Tất cả chúng tôi đều nín thở, theo dõi chiếc phi-cơ lâm nạn lướt trên mặt phi-đạo, vừa mong cho người phi-công lâm nạn được an toàn, vừa thầm cảm phục tài nghệ của anh. Ra khỏi lớp bột chống hỏa trải lót đường, chiếc phi-cơ tiếp tục lướt tới với một tốc độ khá nhanh. Tướng Kỳ quay qua nói với Th/Tá Hồ Đăng Trí, sĩ-quan tùy-viên của ông, chạy xe ra phi-đạo, và nếu điều kiện an-phi cho phép, thì chở người phi-công lâm nạn tới gặp Tướng Kỳ để ông mời anh một ly rượu mừng. Th/Tá Trí chưa kịp quay lưng thì tất cả mọi người đứng trong hangar đều trợn mắt, há mồm nhìn chiếc phi-cơ cầy trên mặt nhựa. Những tia lửa từ bụng phi-cơ xẹt ra, bắn tung tóe như một cây pháo bông, rồi đâm thẳng vào ụ đất cuối đường bay, cạnh trạm tiếp liên của hãng “Hàng Không Việt Nam”. Một cột lửa bùng lên, rồi chiếc ghế ngồi của người phi-công phóng vút lên cao, nhưng dù chưa kịp mở, thì chiếc ghế đã rơi ngay vào đống lửa bập bùng… Chiếc phi-cơ số một vòng lại, bay sát mặt phi-đạo, lắc cánh, quằn quại gầm thét như một con mãng hổ lạc bầy, làm một vòng quay 360 độ trên đầu ngọn lửa, như để gởi lời chào vĩnh-biệt tới người bạn đồng hành vừa nằm xuống, rồi vụt bốc lên như cây pháo thăng thiên, cô đơn lao mình vun vút, lẩn khuất sau những đám mây tang, để lại bầu trời hoang lạnh những âm-thanh phản hồi, gầm-gừ như tiếng sấm đầu mùa mưa… Mọi việc xẩy ra quá nhanh, quá bi tráng, làm chúng tôi không kịp đón nhận nó. Trên gương mặt phong trần của những người trai dạn dầy chinh chiến, hằn lên những nét kinh-hoàng. Gương mặt Tướng Kỳ đanh lại, cặp mắt ông trừng trừng nhìn vào khoảng không-gian vô tận, như bất chợt gặp lại những hình ảnh hãi hùng ngày nào, khi ông còn bay những “phi-vụ cò trắng” vượt biên, hằng đêm bay sâu trên vùng đất địch… Anh phi-công phản-lực F100 ơi, từ chiến trận nào anh trở về đây để được hỏa táng trên miền đất lạ. Dù rằng không có một lễ nghi quân cách, dù rằng không có những vòng hoa tang phúng điếu, và tiếng kèn truy điệu cho anh, nhưng ở đây đã có những tấm chân tình của tri-kỷ, đang thành kính cúi đầu chiêm bái anh linh người tráng- sĩ vừa hy-sinh... Bây giờ là 6 giờ chiều, từ một nơi cách xa quê-hương anh cả một đại-dương ngút ngàn sóng nước, không có một người thân, không có bạn bè, mà chỉ có chúng tôi, những người cùng chung một chiến tuyến với anh, xin nguyện cầu cho anh đêm nay xoải cánh an toàn, bay về cõi vĩnh-hằng cao diệu vợi…


Chén rượu giang-hồ đậm tình tri-kỷ:

Đối với những người lính chiến như chúng tôi, dù ở đơn-vị hay cấp bậc nào đi chăng nữa, thì cuộc sống cũng vô cùng bấp-bênh và ngắn ngủi. Mới chỉ buổi sáng đây thôi, còn thấy anh ồn ào cùng chúng bạn, để đến đêm về, ở một nơi nào đó có ánh đèn mờ ảo như muốn che dấu những nỗi kinh hoàng trong lửa đạn, đã thấy bùng lên câu thơ: “Đêm tráng-sĩ qua sông lần vĩnh biệt - Tưởng đang còn tiệc rượu lúc tàn canh”. Cho nên dù chỉ là một lần gặp gỡ tình cờ, cũng sẽ đem lại cho chúng tôi những kỷ-niệm chập-chùng khó quên… Còn nhớ một lần tôi cùng Thặng (Fulro), Long (lăng quăng), và Phúc (cháy), đến dự đêm dạ vũ “Mây bốn phương trời” tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu-Bạc trong căn cứ KQ Tân-Sơn-Nhất. Trong đêm vui này, một số phi-công nghênh cản F4C từ hàng-không mẫu-hạm Midway cũng được mời về tham dự. Vừa bước vào phòng đã thấy ông Hưng (phệ) chạy ra đón. Rồi ông dẫn chúng tôi lại ngồi cùng bàn với những “người khách đặc biệt” này. Tất cả đều đứng lên trong khi ông Hưng giới thiệu: “Đây là những hoa-tiêu F4C thuộc không-đoàn nghênh cản ngoài hạm đội số 7.” Rồi quay qua chúng tôi, ông nói với họ: “Còn đây là những phi-công khu-trục oanh tạc A1 của KLVNCH.” Chúng tôi trao đổi với nhau những tia nhìn đầy thiện cảm, cùng những cái xiết tay chặt chẽ thân tình như đã quen nhau tự thủa nào… Một ông Đại-Úy trẻ măng, mặc bộ đồ bay mầu cam, nắm tay tôi nói:
- Chúng tôi được nghe rất nhiều huyền-thoại về các bạn, những phi-công can đảm, chiến đấu hào hùng trong những điều kiện cực kỳ khó khăn và nguy-hiểm. Đêm nay được gặp, thật là vinh hạnh.
Tôi bóp chặt tay anh cười nói:
- Chúng tôi cũng rất ngưỡng mộ các bạn, những “MiG Killer” của Hải-Không-Quân Hoa-Kỳ, hàng ngày vẫn bình thản “Đạp sóng đại-dương lướt gió ngàn”, quần thảo với phi-cơ và hỏa-tiễn địch trên vòm trời lửa đạn. 


Rồi những giọng cười như con lốc xoáy, bốc lên theo hơi rượu của những con người mà mới chỉ một lần đầu gặp gỡ, đã thấy “mến nhau qua phong độ, trọng nhau vì tài”. Anh Khoa (Đen) hai tay xách hai chai Martel cổ lùn lừng lững đi tới, anh cất giọng hào-sảng nói:

- Đêm nay các cậu phải uống cho thật say đó nghe.
Tôi tiếp lời anh:
Say như tráng sĩ say hào khí
Tưới rượu hư không gột chiến bào
Trượng phu cất tiếng cười vang dội
Bầu trời rung chuyển cả trăng sao.
Anh ngửa mặt cười sảng-khoái, rồi mở chai rót rượu. Thặng (Fulro) với tay bấm nút chai soda, tưới những tia nước sủi bọt trắng xóa vào những chiếc ly thủy tinh. Tôi cười nói với Thặng:
- Rót nữa đi bạn: “Rót cho rượu tuôn như suối dồn thác đổ - Đã tiễn đưa đâu mà nói trường-đình”.
Tất cả đều nâng ly, ngửa cổ uống cạn ly rượu giang-hồ, và nhìn nhau bằng những tia nhìn long lanh qua ánh mắt, rồi cùng cất tiếng cười vang, át cả tiếng nhạc của đêm liên-hoan… Đêm nay còn có thứ ngôn-ngữ nào diễn tả nổi tấm chân tình của tri-kỷ, và còn có men rượu nào sánh được với “men hào-khí” của chinh nhân… Bởi vì: “Ngày mai vào trận ai nào biết - Tráng-sĩ quay cuồng bom đạn rơi”…

Anh Khoa thân kính! Đã lâu lắm rồi, kể từ đêm tao ngộ với những cánh chim trời phiêu bạt tụ về, cùng anh bàn chuyện “chiến chinh” lần đó, chúng mình chưa một lần gặp lại nhau, nhưng em vẫn nhớ cái dáng dấp hiên-ngang quen thuộc thủa nào của “người tráng-sĩ cô đơn lạc nẻo dòng đời…” khi anh cùng Th/Sĩ N.V. Nhất đáp chiếc “Thần Phong 01” xuống Pleiku vào một buổi sáng mù sương, để gặp T/Tá Lê Bá Định và Tr/Tá Nguyễn văn Bá. Cuộc gặp gỡ bí-mật của những con người “giang hồ quen thói vẫy vùng” tuy thật ngắn ngủi, nhưng cũng đã làm “nghiêng ngả cả giải giang-hà dưới gót chân”.






…Ngày tháng vẫn lạnh lùng trôi… Tôi quên thế nào được hình ảnh chiếc H34/PĐ219 của Đại/Úy Nguyễn văn Thắng lừng-lững từ trên không như một khối sắt khổng lồ lao mình xuống cơn bão lửa…Rồi anh Nghĩa (già) từ trong lòng phi-cơ phóng ra, vội vã tháo dây dù cho tôi, vác tôi lên vai chạy dưới làn mưa đạn của quân thù tại chiến trường Benhet ngày nào…


… Tôi cũng còn nhớ rất rõ âm thanh tắc nghẹn trên tần-số của Th/Tá Hồng Khắc San, người phi-tuần trưởng gan lỳ của phi-tuần Thái Dương 51, khi chiếc số 2 của anh, Thiếu-Úy Dương Huỳnh-Kỳ, trầm mình trong ngọn lửa mịt mùng theo với dàn bom napalm hai bên cánh, và thân xác người phi công tài hoa son trẻ của phi đoàn 530 đã được hỏa táng ngay trên đỉnh Charlie…Cùng trong khỏang thời-gian và không-gian đó, một cánh dù bung nở, mang theo người phi-công của phi-tuần kế tiếp, Thái-Dương 61, từ chiếc phi-cơ bốc cháy trên vòm trời lửa đạn, về với những người bạn Nhẩy Dù, Biệt Động Quân đang quần thảo với địch quân nơi chiến địa của mùa Hè rực lửa năm xưa… Rồi chiếc UH1/PĐ229 của Tr/Úy Tuấn (Bocassa), Tr/Úy Xuân (tóc đỏ) bay tới, nghiêng ngả như con thuyền ngụp lặn trong cơn phong ba bão táp giữa biển khơi, thả sợi giây thừng cho tôi nắm lấy… Khoảng cách giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau chưa đầy một gang tay, mà sao tôi thấy nó dài như cả vạn dặm đường… Trong giây phút tưởng chừng như tuyệt vọng đó, thì một phép lạ chợt đến. Người cơ-phi xạ-thủ dũng-cảm của phi-hành-đòan trực-thăng cấp cứu, từ trong khoang tầu hiện ra như một “Thiên Thần”, leo xuống sợi dây lơ lửng giữa trời, thòng cánh tay rắn chắc cho tôi nắm lấy, và chúng tôi cùng đong đưa theo sợi dây, trước cặp mắt ngơ ngác của tử thần… Rồi cứ thế, chiếc phi-cơ “cứu tử” đưa tôi về căn cứ Võ-Định, nơi có đơn-vị tiền phương của Lữ-Đoàn Dù trấn đóng. Sau khi thả tôi nằm trên tấm poncho dưới đất, các anh, những “Hiệp-Sĩ không gian” của vùng trời biên trấn, lại lạnh lùng quay lưng cất cánh, không để cho tôi có dịp gởi đến các anh một lời chào tạm biệt.



… Tôi quên thế nào được những cử chỉ vỗ về, chăm sóc của những người bạn đồng ngũ ngoài chiến trường. Th/Tá Phạm-Bính, PĐT/PĐ215 rót những liều thuốc tê vào tai tôi: “Ráng một chút nghe cưng, sắp xong rồi.” khi anh nắm chặt lấy hai cánh tay tôi cho Bác-Sĩ Hiệp, người y-sĩ trẻ của binh chủng nhẩy dù, khâu sống vết thương trên trán. Trong cơn mê mơ hồ thảng thốt, tôi nghe có tiếng cười đùa trao đổi giữa Th/Tá Huỳnh Hải-Hổ, người đang đè hai chân tôi, và vị Bác-Sĩ trẻ: “Cẩn thận nghe Bác-Sĩ, đừng để vết thẹo quá lớn trên gương mặt đẹp trai của tráng-sĩ – Vâng, tôi chưa thấy người lính trận nào lại có một làn da trắng và mịn màng như ông Th/Tá này.”

… Rồi những ngày chinh chiến qua đi… Đã có biết bao nhiêu người bạn lạnh lùng quay lưng vượt “dòng sông định mệnh”, để lại cho đời những luyến tiếc nhớ thương. Và cũng có biết bao nhiêu người bạn mới chỉ nghe danh, hoặc chỉ qua một lần gặp gỡ, mà tình tri-kỷ đã đậm đà đến tận thiên thu…


Bây giờ ngồi đây giữa cảnh đời luân-lạc, tôi nhớ đến những người của ngày xưa đó, mà thấy lòng mình chùng xuống… Giờ này các anh đang ở đâu, có phải các anh đang cô-đơn xoải cánh dưới bầu trời dông bão, hay đã dừng chân nơi chốn lạ, và đêm về các anh có nghe được những ưu-tư khắc khỏai thầm lặng của cố nhân…

… Còn tôi vẫn nhớ ngày hôm ấy
Nhớ cả khung trời mây trắng bay
Rồi đây trên phiến thời-gian cũ
Tôi sẽ mang theo những tháng ngày.


Hàng đứng từ trái: Nguyễn Đăng Huấn, Trần Ngọc Hà, Nguyễn Ngọc Thức, Lê Công Bắc, Nguyễn Hữu Thuyết, Vũ Ngô Dũng, Sử Ngọc Cả, Huỳnh Thanh Minh
Hàng ngồi từ phải: Hồ Đình Chi, Nguyễn Quý Chấn, Huỳnh Văn Vui, Nguyễn Văn Tường(CHT), Nguyễn Quốc Phiên, Lê Hải, Bùi Đức Nhân, Phan Khôi



Trần Ngọc Nguyên Vũ



(Lake Tahoe. Những ngày cuối Đông!)




Chú-thích: (*) Công Công: Ngày xưa người ta gọi những viên hoạn quan, thái giám là “Công Công”.


11 comments:

Lanh Nguyen said...

Đọc 4 lần rồi mà lần nào cũng rớt vài giọt nước mắt. Thiệt là tình mà.

nhut pham said...

Đây là lần thứ hai, phi trường CÙ HANH ở Pleiku đã xảy ra tai nạn làm 2 phi công tài ba tử nạn. Cuối năm 65, một thiếu tá phi công lái chiếc phi cơ phản lực đáp xuống phi trường Cù Hanh, trên đường vào chỗ đậu, phi cơ sụp lổ không tiến tới được. Thiếu tá phi công xuống coi và không biết ông làm cách nào mà phi cơ cán ông, khi chở vô quân y viện thì ông đã chết. Không biết Ông Đạo còn nhớ vụ nầy không?

Quang Minh said...

1965 Lúc dó tui còn mài quần ở NTT thầy ơi

Quang Minh said...

1965 em còn dồi mài kinh sử , tu luyện ở NTT /RG , 1966 - 1968 học đại SG , 3/1969 Thủ Đức , 1970 SD4KQ / Cần Thơ , 1972 Phi trường Phù Cát / Bình Định , 1973-4/1975 phi trường TSN / Sài Gòn
Nên không biết vụ nầy cuối 1965

maytrangbonmua said...

Là Th/tá Nguyễn ngọc Biện, biệt độ trưỏng 615 phản lực cơ B-57, tháng 2-1966, vì thời tiết xấu, không về Đà Nẳng được nên đáp ở Pleiku, vì độ dốc ở phi đạo,(hệ thống thuỷ điều bị hư, nên bị tai nạn lãng xẹt). Giữa năm 1964 ba người đầu tiên được sang Phi luật Tân học xuyên huấn B-57 là Đ/u Tường, Long và ông vì Mỹ bàn giao một số phản lưc B-57, sau 9 tháng hoạt động thì ngưng, xui cái Th/tá Long cũng bị tử nạn như ông vì kỹ thuật.

Anonymous said...

Đoàn Xuân X, ở TX, là gái, không là chiến binh như anh QD. Đọc chuyện kễ, đọc tâm tình của anh về thái độ người Mỹ, ĐXX xin anh đừng buồn, mình làm những việc thật hết lòng cho mình, cho bạn đồng đội, cho dân thế thôi.
Nói về không quân, xem tài liệu của Mỹ về không chiến tại VN, ĐXX tự hỏi phi công Mỹ có giỏi thật không? Và xưa hơn, hồi thế chiến thứ Hai, những phi công da đen Mỹ Red Tails họ phải chịu áp lực kỳ thị như thế nào.
Qua rồi anh QD ơi
ĐXX

Quang Minh said...

Xin lỗi tôi chỉ là người chuyễn bài viết , không phải là tác giả

trường tôi said...

Nghe nói chị ĐXX ở Tếch Xịt hả? Nếu có dịp chị ghé nhà tui chơi nghen !
Người hiếu khách

trường tôi said...

Nghe nói chị ĐXX ở Tếch Xịt hả ? Nếu có dịp mời chị ghé nhà tui chơi nghen !
Người hiếu khách

Quang Minh said...

Cám ơn Đoàn Xuân X comment
Đọc lời giới thiệu của Cô : " Đoàn Xuân X. TX , là gái ..." , làm tôi nhớ mấy bà vợ mấy ông bay nói "! Mấy ông lái phi cơ , chúng tôi lái phi công " , Qua Mỹ , mấy ông lái xe , mấy bà lái tài xế . Anyway mấy bà lúc nào cũng là boss

Quang Minh said...

Trừ ông thầy giáo NNH , đẻ bọc điều , được cưng như trứng hứng như hoa , và hơn nữa , lúc đi trên đường bà xả lúc nào cũng đi bên tay trái của ông , có chuyện gì bà xả lảnh đủ trước . Thiệt là tình mà